Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

Đức Mẹ lên trời tại Việt Nam hôm nay - ĐGM. JB. Bùi Tuần


Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời -15/8
8/11/2014 1:15:49 PMMẹ vẫn đợi chờ được ôm vào lòng những đứa con nghèo khổ bơ vơ, để cùng Mẹ lên Trời hưởng tình yêu trọn vẹn muôn đời.
DC-GB-BuiTuan.jpg 
1. Đã gần 40 năm rồi, tôi cùng với vài linh mục đã đến thăm giáo xứ Hòn Chông, một giáo xứ ven biển thuộc Kiên Giang.

Từ Hòn Chông, chúng tôi đi thăm giáo xứ Rạch Đùng cũng vùng hẻo lánh. Trên đường đi, chúng tôi ghé lại xóm Rẫy mới. Nơi đây lúc đó chỉ còn vài gia đình rải rác ở sườn núi.

Điểm đáng chú ý là nơi đây còn dấu vết một ngôi nhà thờ nhỏ. Tất cả đều đã bị bom tàn phá. Còn trơ lại vài bức tường đổ nát, cỏ cây trùm phủ um tùm.

2. Giữa chốn hoang vu ấy, chúng tôi ngạc nhiên thấy một tượng Đức Mẹ đứng giữa cỏ cây rêu phủ.

Ngạc nhiên tiếp nối ngạc nhiên, khi chúng tôi đọc thấy trên bức tường đá gần bên một bài thơ ghi khắc sâu bằng vật nhọn:

“Mẹ đứng ở đây một góc trời.
Đôi mắt nhân từ nhìn muôn nơi.
Hai tay ban xuống muôn hồng phúc.
Cho kẻ tin yêu chạy đến Người” (Bảo Sơn).

3. Có thể tác giả là một người lính hành quân qua đường trong thời chiến. Anh đã được Đức Mẹ ban ơn. Anh đã xúc động. Nên đã ghi khắc trên đá một niềm tin bao quát như vậy.

Tôi không hiểu sứ điệp anh gởi đã tới những ai. Nhưng ít ra, niềm tin đầy xúc động ấy đã ảnh hưởng lớn đến tôi.

4. Cho tới bây giờ, tượng Đức Mẹ chốn hoang vu đó và bài thơ nặng tình trên bức tường rêu phong đó đã luôn gợi ý cho tôi.

Tôi nghĩ là chính Đức Maria đã gợi ý cho tôi thế này:

Tại Việt Nam hôm nay, Mẹ vẫn đợi chờ mọi con cái Mẹ ở những nơi bị tàn phá, bị bỏ rơi, vùng sâu, vùng xa. Mẹ vẫn đợi chờ với đôi mắt nhân từ và với hai tay ban ơn. Mẹ vẫn đợi chờ được ôm vào lòng những đứa con nghèo khổ bơ vơ, để cùng Mẹ lên Trời hưởng tình yêu trọn vẹn muôn đời.

Tượng Đức Mẹ được phát hiện đứng giữa vùng rừng núi thâm u hoang vu Măng Đen, Kon Tum vào năm 2006 sau một thời gian dài 1975 - 2006 (31 năm) vắng bóng người. Nhóm người đầu tiên phát hiện tượng Mẹ đứng giữa rừng sâu hoang phế là nhóm anh em công nhân khác tôn giáo. Tượng Mẹ lúc ấy bị mất đầu và hai cánh tay do cây rừng ngã đổ va đập vào.  Trong hình, Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh cùng các linh mục GP. Kon Tum đến thăm viếng Mẹ Măng Đen lần đầu ngày 28-12-2006. Từ đó, Đức Mẹ Sầu Bi Măng Đen dần dần được hàng vạn khách hành hương tìm đến kính viếng và được Tòa Giám Mục Kon Tum ấn định là Trung Tâm Hành hương của Giáo Phận Kon Tum. Ngày Lễ Đức Mẹ Sầu Bi 15-9 hàng năm được chọn là Ngày Hành Hương Đức Mẹ Măng Đen của Giáo Phận Kon Tum (Chú thích: MTC) 

Tượng Đức Mẹ Sầu Bi Măng Đen đã được anh em lương dân phục chế, trông gương mặt Mẹ rất khác lạ với 2 bàn tay cụt vì không thể tháp đôi tay khác vào cho Mẹ được. Đức Mẹ Măng Đen còn được gọi là "Đức Mẹ của người khuyết tật" đang giang tay mời gọi con cái muôn phương góp tay giúp Mẹ xoa dịu nỗi đau thương mất mát của lớp người  nghèo khổ, phong cùi, tàn tật về thể xác lẫn tinh thần. (Chú thích: MTC)


5. Gợi ý trên đây đã trở thành một tiếng gọi đối với tôi. Đức Mẹ gọi tôi từ những cảnh khổ đau, cô đơn.

Khi đến với những cảnh đó, tôi đã gặp được Đức Mẹ. Mẹ đã ở đó từ lâu rồi. Mẹ và những người khổ đau làm nên một gia đình của niềm tin và của tình thương.

Bên Mẹ nhân từ, tôi thấy biết bao con người lầm than. Họ khổ lắm. Họ lầm than lắm. Họ bị hắt hủi, bị loại trừ. Chỉ còn Mẹ là nơi họ tựa nương. Mẹ đón nhận họ với tất cả tấm lòng người mẹ đầy thương xót.

6. Năm đó, tôi đi Lavang. Tại đây, tôi đã thầm nói với Đức Mẹ nhiều điều, kể cả những tâm tình, mà tôi vừa chia sẻ trên đây. Mẹ tại Lavang cho tôi nhớ lại những năm chiến tranh, những tháng đói nghèo, mà tôi đã trải qua. Suốt thời gian đó, Mẹ đã là nguồn an ủi vô cùng quý giá cho tôi. Một cách âm thầm, mà hữu hiệu.

Hồi đó, tại nơi tôi ở không có nhà thờ, không có thánh lễ, không có cộng đoàn quy tụ. Rất nhiều khi, chỉ có một mình, với tấm lòng đầy niềm tin và trông cậy đặt ở Mẹ.

Đức Mẹ hiện ra nhiều lần năm 1798 tại La Vang, Quảng Trị, Việt Nam, an ủi và cứu giúp nhiều giáo dân đang trốn chạy khỏi những cơn bách hại người công giáo của nhà cầm quyền lúc bấy giờ (Chú thích: MTC)


7. Bên Mẹ, nhờ Mẹ và với Mẹ, trong thời loạn ly đói khổ, tôi có kinh nghiệm phần nào về sự Đức Mẹ xưa đã sống nghèo giữa những người nghèo, ở những địa phương nghèo, để âm thầm chia sẻ cuộc sống của họ, nhờ đó mà đưa họ về với Tin Mừng.

8. Hiện nay, ơn gọi theo gương Mẹ âm thầm bác ái ở Nagiarét vẫn đang sống động bằng nhiều cách ở nhiều nơi.

Khi qua Hungari, Liên Xô, Đức, Pháp và ngay tại Đất Thánh, tôi vẫn được gặp những hình ảnh sống động của Đức Mẹ lặng lẽ giữa những lớp người nghèo chật vật trong những hoàn cảnh rất khó khăn.

Mấy ngày nay, qua báo chí và truyền hình, tôi thấy tình hình tại những nơi Chúa Giêsu và Đức Mẹ, thánh Giuse và các thánh tông đồ xưa đã rao giảng Tin Mừng, đang trở thành nơi xung đột đẫm máu.

Chính tại những nơi này và chính trong thời điểm này, sự hiện diện âm thầm của những hình ảnh sống động Mẹ Maria nhân ái đang giúp ích rất nhiều cho các linh hồn.

Họ là những nhóm nhỏ, sống nghèo, giữa những người nghèo. Đặc điểm của họ, là cùng với Đức Mẹ, đưa Chúa Giêsu đến với mọi người, qua những gặp gỡ và gần gũi thân thương.

9. Tôi cũng đang thấy như vậy tại Việt Nam. Tuy không đều khắp, nhưng những cá nhân và những nhóm nhỏ của Đức Mẹ tại Nagiarét đang đi về vùng sâu vùng xa và bước sâu vào những vùng tăm tối ngay giữa các thành thị.

10.  Họ rất cần được đào tạo.

Sẽ rất lầm, nếu đào tạo họ bằng cách cho họ thấy họ sẽ là kẻ sẽ được chức cao quyền trọng, lời lớn lộc nhiều, như một lớp người lãnh đạo.

Sẽ rất lầm, nếu đào tạo họ bằng cách chiều chuộng họ với một cuộc sống đi theo con đường rộng rãi thênh thang, như một lớp người hưởng thụ.

11. Đào tạo cần thiết nhất cho họ cũng như cho tôi là một thứ biến đổi theo lời Chúa Giêsu phán: “Nếu các con ở lại trong Thầy, và lời Thầy ở lại trong các con, thì muốn gì, các con hãy xin, các con sẽ được như ý” (Ga 15,7). Ta ở lại trong Chúa và lời Chúa ở lại trong ta, đó sẽ là một sự biến đổi, như đã xảy ra xưa nơi Đức Mẹ.

Regina Coeli, ora pro nobis! Lạy Nữ Vương Thiên Đàng, Xin cầu cho chúng con!

Tôi đang thấy Chúa biến đổi nhiều người tại Việt Nam thành hình ảnh Đức Mẹ, nhờ sự ở lại trong Chúa và trong lời Chúa. Họ đang được Chúa chuẩn bị cho một tương lai, mà tình hình đạo sẽ sáng lên ở những vùng sâu vùng xa, nơi ở của những lớp người nghèo khổ. Đức Mẹ đưa họ lên trời từ những cuộc sống phấn đấu chân thành và âm thầm cho niềm tin và tình yêu thương bác ái.

Lạy Mẹ Maria, con khốn khổ yếu đuối lắm, con đến với Mẹ, con tin ở Mẹ. Xin Mẹ thương cho con được theo Mẹ lên trời từ vực sâu tội lỗi của con. Xin Mẹ cũng thương đến tất cả những ai chân thành tìm đến với Mẹ.

Long Xuyên, ngày 9.8.2014


+ GB. Bùi Tuần
http://conggiao.info/news/1662/24207/duc-me-len-troi-tai-viet-nam-hom-nay.aspx

Chủ Nhật, 10 tháng 8, 2014

Ngày 11/08: Thánh Clara, đồng trinh - Lm. Giuse Đinh Tất Quý


Ngày 11-08:
Thánh CLARA, đồng trinh
(1194-1253)
1. Hôm nay chúng ta cùng với Giáo Hội mừng lễ Thánh Clara đồng trinh.
Cũng như thánh Phanxicô Khó Khăn, thánh nữ Clara là một ngọn đèn thật sáng Chúa đã dùng để làm cho nhân loại hiểu rõ hơn về tinh thần khó nghèo tuyệt đối của Phúc Âm là tinh thần như thế nào.
Clara sinh ngày 16/7/1194 tại Assise miền Ombrie nước Ý, trong một gia đình quý phái. Clara được một người mẹ đạo đức đã lưu tâm dạy dỗ cho ngay từ thuở còn thơ ấu, bằng cả lời nói cũng như bằng gương sáng của mình. Bà đã giáo dục, tập cho Clara biết cầu nguyện, biết sống từ bỏ và biết chịu đựng nhẫn nhục thật sớm.
Lên 16 tuổi, Clara đã tránh xa tiếng ồn ào của đô thị đến ẩn mình trong một nhà thờ ở miền quê (1212). Chính nơi đây Clara đã gặp thánh Phanxicô Khó Khăn và được Ngài tận tình giúp đỡ trên con đường tu đức. Khi Clara chọn con đường dâng hiến cho Chúa, gia đình đã ngăn cản quyết liệt. Clara đã can đảm vượt qua. Cuối cùng Clara đã được đưa đến đền thờ thánh Ðamianô và ở đây Clara đã lập Hội Các Chị Tận Hiến cho Thiên Chúa.
Về đời sống thiêng liêng, ngài trực tiếp theo sự hướng dẫn của thánh Phanxicô Khó Khăn. Ngài điều khiển tu hội cách ân cần và khôn ngoan. Ngài qua đời ngày 11/8/1253 trước sự thương tiếc của mọi người.
Ðức Giáo Hoàng Alexandre IV đã đặt ngài lên hàng các thánh đồng trinh năm 1255.

2. Nhìn lại cuộc đời của thánh nữ Clara, chúng ta thấy ngài đã có một ý chí thật cao và mạnh mẽ trên con đường dấn thân đi theo Chúa. Truyền thuyết kể lại ngài đã thầm khấn dâng mình cho Chúa ngay từ lúc 16 tuổi, ngay lúc còn ở nhà để giúp đỡ cha mẹ. Ngài đã kiên nhẫn chờ đợi ngày Đấng Quan phòng ấn định. Và ngày tốt đẹp ấy đã đến. Clara đã hết sức vui mừng khi được biết về cuộc đời kỳ diệu của Phanxicô, con trai của một đại thương gia giầu có người thành Assisi. Clara đã hết lòng cảm phục trước việc Phanxicô dứt khoát từ bỏ mọi sự giầu sang và can đảm thoát ly mọi áp lực trần thế kể cả việc phải từ bỏ cả nhà cha mẹ, để lên đường hiến thân phục vụ Vua Trời trong đời sống khó nghèo.
Nghe biết về con đường của thánh Phanxicô, Clara đã kín đáo tìm đến gặp và nói cho ngài biết tất cả chí hướng về đời sống nội tâm của mình. Riêng Phanxicô, vì được ơn Chúa soi sáng, nên thánh nhân đã mau nhận ra con đường Chúa muốn người con thiêng liêng của mình phải đi là con đường nào. Vì thế, Phanxicô đã âm thầm giúp Clara chuẩn bị ngày công khai đoạn tuyệt thế gian, để xe duyên với “đức khó nghèo”. Ngày ấy là ngày Chúa nhật Lễ Lá năm 1212.
Theo lời chỉ dẫn của thánh Phanxicô, sáng hôm ấy Clara ăn mặc thật diễm lệ, xứng đáng con nhà quý phái. Clara tiến lên, quỳ hàng ghế đầu, như để từ giã mọi người lần cuối cùng. Trước cử chỉ lạ thường của Clara, mọi người quen thuộc đều bỡ ngỡ! Và người ta càng bỡ ngỡ hơn nữa khi thấy Clara không đi kiệu lá, cứ quỳ tại chỗ chăm chú nhìn lên bàn thờ, tay nắm chặt cành lá xanh tươi, tượng trưng cho sức sống mạnh mẽ đang dâng lên trong tâm hồn… Thế rồi đêm hôm ấy, Clara bỏ nhà cha mẹ, tay cầm cành lá chạy thẳng đến nhà nguyện Nữ Vương các thiên thần, nơi Phanxicô đang quỳ chờ đợi. Trong nhà thờ nhỏ bé dâng kính “Bà Chúa nghèo” này, thánh Phanxicô đã giúp người con thiêng liêng của mình hiến tóc và dâng lòng cho Thiên Chúa. Sau khi dâng hiến cho Chúa mớ tóc huyền, Clara đổi bộ áo diễm lệ ban sáng, mặc lấy chiếc áo thô của đức khó nghèo.
Và dòng nhì thánh Phanxicô hay là dòng Các chị em nghèo được thiết lập từ đó.
Sáng hôm sau, Phanxicô dẫn Clara đến gửi tại một nữ tu viện gần làng Baxia. Nhưng vì không chịu được sự phản đối quá gay gắt của gia đình, Clara lại xin thánh Phanxicô đến lẩn tránh ở một tu viện khác. Tại đây, thánh nữ đã khuất phục được một người em gái tên là Annê. Annê mới 15 tuổi, nhưng dáng người đẹp đẽ và tinh thần sắc sảo không kém gì Clara. Sau Clara, Annê là người thứ hai được Phanxicô cắt tóc và dâng lên Thiên Chúa lời khấn vâng lời, trinh khiết và khó nghèo. Người ta kể, khi gia đình Annê đến, nhất quyết lôi nàng về. Thì lạ thay, con người nhỏ bé của nàng bỗng trở nên rắn cứng và nặng trĩu, đến nỗi bốn năm người kéo không nổi. Biết đó là việc lạ Thiên Chúa làm, mọi người đành yên lặng ra về…
Khi công việc đã êm xuôi, thánh Phanxicô đến lĩnh ý Đức Giám mục xây cho chị em một ngôi nhà nhỏ lấy tên là tu viện thánh Đamianô. Đây là tu viện đầu tiên của dòng các chị nghèo. Tuy nhỏ bé, nhưng số chị em lên rất đông. Đầu tiên chị em sống theo qui luật của chính thánh Phanxicô soạn, nhưng đến năm 1215 công đồng Latêranô sửa đổi lại, tham chiếu theo luật dòng thánh Biển Đức. Bốn năm sau, Đức Hồng Y Ugolinô lại duyệt lại và bỏ bớt những điều luật quá nghiêm nhặt về đời sống khổ nghèo của chị em. Riêng thánh nữ Clara, người được đặc ân của Đức Giáo Hoàng, cho tự do sống khó nghèo vượt hẳn qui luật dòng.
Các nữ tu đều đi chân không, ngủ trên nền đất, không ăn thịt và hầu như giữ im lặng hoàn toàn. (Về sau thánh Clara, cũng như thánh Phanxicô, thuyết phục chị em điều chỉnh điều khắt khe này: “Cơ thể chúng ta không được làm bằng đồng”). Dĩ nhiên, điều nhấn mạnh nhất là sự nghèo khó Phúc âm. Họ không sở hữu tài sản, ngay cả giữ chung, chỉ sống nhờ vào những của bố thí hằng ngày.
Bà chăm sóc các bệnh nhân, hầu bàn, rửa chân cho các chị em khi họ đi hành khất về. Ảnh hưởng của bà mạnh đến nỗi các giáo hoàng, hồng y và giám mục thường đến tham vấn bà. Bà rất sùng kính Thánh Thể. Bà luôn nói với các chị em: “Đừng sợ. Hãy tín thác vào Chúa Giêsu”.
Ngày 11-8 năm 1253, thánh nữ gọi các chị em lại để nhắn nhủ mấy lời cuối cùng: “Chị em thân mến! Tôi Clara, nữ tỳ hèn mọn của Chúa Kitô, là thân cây non Thiên Chúa đã ban cho cha thánh Phanxicô, đem trồng trong vườn tu viện như một tiểu muội, một hiền mẫu của chị em. Dù không xứng đáng, tôi cũng nhân danh Thiên Chúa chúc lành cho chị em tất cả”. Sau cùng thánh nữ kêu to tiếng: “Nào chị em không thấy Vua vinh hiển đang đến với tôi kia ư?”. Nói đoạn, ngài nhắm mắt lại, êm ái ra đi như người ngủ! Nhiều chị em dòng làm chứng đã thấy Đức Mẹ và nhiều thánh nữ khác hiện đến đón linh hồn thánh Clara về trời!
Thánh nữ được Đức Giáo Hoàng Alexanđrô IV phong lên bậc hiển thánh. Và sau, Đức Clêmentê X định lễ kính thánh Clara vào ngày 11 tháng 8 hằng năm, ngày thánh nữ được Chúa gọi về trời lãnh triều thiên vĩnh cửu, sáng rực những hạt ngọc trinh khiết và khó nghèo!
http://tgpsaigon.net/baiviet-tintuc/20140809/27176
-----------------------------------
Lạy Chúa, xin ban ơn giúp sức chúng con luôn can đảm noi gương Thánh Nữ Clara, biết chọn Chúa làm gia nghiệp cả đời mình, chọn cuộc sống khó nghèo về tinh thần lẫn vật chất để sẵn sàng tin thác trọn vẹn vào Chúa và phục vụ Chúa tận tình bằng việc phục vụ & yêu thương mọi người cùng khổ, bất hạnh, chính là hiện thân sống động của Chúa trong cuộc sống hàng ngày. Amen!

Thứ Năm, 7 tháng 8, 2014

Đức Mẹ hiện ra tại La Vang với những di tích nào? LM. THÊÔPHILÊ



BY: LM. THÊÔPHILÊ
Kính thưa cha:
Vào thời kỳ bắt đạo năm 1798, những lần Đức Mẹ hiện ra tại La Vang với những di tích nào? Đã được Tòa Thánh xác nhận chưa?
Nguyễn Thị Thoa (Nurnberg)

Tài liệu về Đức Mẹ La Vang rất nhiều qua sách vở, báo chí và các trang Web. Tất cả giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về sự kiện cũng như sứ điệp của Đức Mẹ La Vang. Qua câu hỏi, chị ghi đúng niên hiệu 1798, chứng tỏ chắc hẳn chị cũng biết ít nhiều về Đức Mẹ La Vang. Vì thế, phần giải đáp xin được chú trọng đến các tài liệu, các chứng tích (thư chị ghi là những di tích) và giáo quyền nói gì về Đức Mẹ La Vang. Câu trả lời cũng xin được mượn ý đến từ cuốn sách mới nhất về Đức Mẹ La Vang. Có thể nói cuốn Đức Mẹ La Vang, tài liệu Thánh Mẫu học, do Linh mục Trần Thanh Phong biên soạn và phát hành năm 2003 ở Việt Nam được coi như tài liệu đầy đủ nhất cho đến hôm nay.



1.    CHỨNG TÍCH NÀO VỀ ĐỨC MẸ HIỆN RA TẠI LA VANG?
Ở điểm này, chúng ta chỉ có thể tìm thấy những chứng tích trước tiên đến từ truyền thuyết truyền khẩu, và tiếp theo truyền thuyết được viết lại với hai tài liệu cổ xưa nhất.

1.1. Theo truyền thuyết truyền khẩu: Đức Mẹ hiện ra tại La Vang vào thời vua Cảnh Thịnh bách hại đạo, nhưng niên hiệu nêu lên ở đây chỉ phỏng đoán chứ sắc dụ bách hại đạo ban hành ngày 24.1.1795. Vì vậy khi nói "thời vua Cảnh Thịnh" cũng khó biết được năm chính xác. Theo truyền khẩu dân gian, vào khoảng năm 1798-1802 trong cuộc bách hại quyết liệt ở vùng Dinh cát, Quảng Trị, giáo dân các họ đạo Cổ Vưu, Thạch Hãn, Hạnh Hoa... đã chạy vào rừng phường La Vang trốn tránh. Tại đây, ban đêm họ họp nhau cầu nguyện và lần hạt. Bỗng nhiên họ thấy một bà đẹp đẽ mặc áo choàng hiện ra gần một cây đa đại thụ. Bà bồng Chúa hài nhi, và hai bên có hai thiên thần cầm đèn chầu. Bà an ủi và dạy họ bẻ lá cây chung quanh đó nấu nước uống sẽ được lành bệnh. Bà còn hứa từ nay về sau ai chạy đến cầu khẩn ở chốn này sẽ được nhậm lời ban ơn phù hộ. Sau đó Bà còn hiện đến với họ nhiều lần như vậy.





1.2. Truyền thuyết được viết lại. Lúc ban đầu truyền khẩu được rao đi từ thế hệ này sang thế hệ khác. Sau này, gần non một thế kỷ, truyền thuyết truyền khẩu kể trên đã được một vị thừa sai thuộc Hội thừa sai Ba Lê ghi lại: Notre Dame de La Vang, trong Annales de la société des Missions Etrangères, số 24, tháng 11-12, trang 273-277 xuất bản năm 1901. Lược dịch như sau: "La Vang nằm giữa nơi rừng rú, cách thành Quảng Trị và cộng đồng Kitô hữu phồn thịnh Cổ Vưu vài cây số. Truyền thuyết kể lại rằng khoảng 100 năm nay, các Kitô hữu Cổ Vưu, trốn sự bách hại, đã đến ẩn náu trong nơi được bao bọc bởi một khu rừng lớn này; những người can đảm này rất đạo đức. Mỗi buổi tối, họ tụ họp nhau lại trong một túp lều tranh nghèo hèn dùng làm nhà nguyện. Và ở đó, trước một ảnh to tướng Đức Thánh Nữ Trinh, họ sốt sắng cầu nguyện...
Một buổi tối vào lúc họ rút về, một bà có một sắc đẹp làm say lòng người đã hiện ra với họ; bà mặc áo trắng và có ánh sáng bao quanh; hai đứa trẻ xinh đẹp, mỗi đứa cầm một bó đuốc, đứng gần hai bên bà.
Bà đi đi lại lại nhiều lần trước những người kitô hữu đang rất đỗi vui mừng - chân bà chạm đất như thể chiếm hữu nó - rồi bà đứng lại và bằng một giọng rất dịu dàng, đã nói lên những lời này mà tất cả mọi người nghe và truyền thuyết đã trân trọng giữ lại: "Này các con, những gì các con đã xin Mẹ, Mẹ sẽ ban cho các con. Và từ nay về sau hễ ai chạy đến cầu khấn cùng Mẹ ở chốn này, Mẹ sẽ nhậm lời". Nói xong như vậy, bà biến mất và sau bà, một luồng ánh sáng bao quanh bà..." (Đức Mẹ La Vang, tài liệu Thánh Mẫu học, Việt Nam 2003, trang 86-87, chú thích 88 và 90).
Cũng trong năm 1901, đã có xuất hiện La Vang sự tích vãn. Cuốn sách được Đức cha Hồ Ngọc Cẩn sửa chữa và tái xuất bản, Trường An, Huế 1932. Trong sách có 3 truyền thuyết truyền khẩu được soạn bằng văn vần:
a) Truyền thuyết về cây Đại thụ (nơi những lời khẩn cầu được nhậm lời một cách lạ lùng)
b) Truyền thuyết về Túp lều tranh - Nhà Nguyện "Chúa Bà" đầu tiên.
c) Truyền thuyết về Đức Mẹ hiện ra:
Thơ rằng Chúa Cả Ba Ngôi
Hộ phù giáo hữu, vài lời thông tin
Rằng Đức Mẹ hiện xuống Thánh Đền
Bồng Thánh Tử trông nên là trọng
Đội mão vàng sang quá là sang
Rất oai vang chữa người bệnh hoạn
Hóa phép lạ cứu kẻ gian nan…
Ngoài lời truyền thuyết truyền khẩu tiên khởi, cũng như hai văn bản cổ xưa nhất thuật lại chuyện Đức Mẹ La Vang hiện ra, còn có một số câu chuyện truyền thuyết kể lại những sự kiện lạ lùng xảy ra. Ba câu chuyện nổi tiếng nhất là chuyện cô bán vải; chuyện các lá cây Đức Mẹ La Vang chữa bệnh hữu hiệu, và chuyện ngôi chùa của ba làng. (Xem Đức Mẹ La Vang, tài liệu Thánh Mẫu học, Việt Nam 2003, trang 114-118).





2.    GIÁO HỘI NÓI GÌ VỀ ĐỨC MẸ LA VANG.
Cho đến nay, Giáo Hội chỉ mới nhìn nhận những lần Đức Mẹ hiện ra cho cô bé chăn cừu Bernadette ở Lộ Đức năm 1858. Giáo hội cho một "quyết định khẳng định cho tám nơi khác như Fatima (Bồ Đào Nha), Beauraing (Bỉ), Akita (Nhật), Syracuse (Ý), Zeitoun (Ai cập), Manila (Phi Luật Tân) và Bêtania (Venezuela). Có một số nơi, Giáo hội hoàn toàn phủ định; ngoài ra Giáo hội không ra một quyết định nào liên quan đến hàng trăm trường hợp về việc Đức Mẹ hiện ra. (xem Đức Mẹ La Vang, tài liệu Thánh Mẫu học, Việt Nam 2003, trang 91, chú thích 102 cho biết điều này đến từ nghiên cứu của tác giả Mary Page do Marian Library, International Marian Resarch, Đại học Dayton). Chúng ta có thể xếp Đức Mẹ La Vang ở trường hợp Giáo hội không có một quyết định nào. Thế nhưng, một số ĐGH cũng đã nói đến Đức Mẹ La Vang chứng giám sự kiện La Vang không trái ngược với đức tin Công giáo. 



Vương cung Thánh Đường Đức Mẹ La Vang, Quảng Trị (1961)

Thật vậy, ngày 22.8.1961 ĐGH Gioan XXIII đã nâng đền thờ Lavang lên "Vương Cung Thánh Đường" qua tông thư "Magnos nos".
Đặc biệt, ĐGH Gioan Phaolô II thường nhắc nhở đến Đức Mẹ La Vang. Trong lễ phong thánh 117 vị tử đạo Việt Nam (19.6.1988) ở Rôma, vào phần kết thúc huấn từ Ngài nói: "Ngôi đền Thánh này có thể biểu lộ mọi sinh hoạt thiêng liêng... còn giúp cho sự hòa hợp đất nước và nhờ đó đời sống công cộng cũng như chân lý của Tổ Quốc sẽ được tăng triển". Sau buổi lễ Phong Thánh, sau khi đọc kinh Angelus Ngài lại nói: "Anh chị em thân mến, như thường lệ, hôm nay chúng ta đi viếng các đền thánh Đức Mẹ trên khắp thế giới. Cuộc hành hương này không thể không dừng lại tại Việt Nam, giải đất được thêm phì nhiêu vì nhờ máu của 117 vị tử đạo vừa được phong lên bậc hiển Thánh. Chúng ta dừng lại để tưởng nhớ đền Thánh La Vang, thuộc Giáo Tỉnh miền Trung Việt nam".
Vào ngày 25.11.1992, trong buổi triều yết chung một lần nữa, ĐGH Gioan Phaolô II đề cập đến đền Thánh Đức Mẹ La Vang thuộc tổng giáo phận Huế: "… trong khi Giáo hội ở Việt nam đang chuẩn bị mừng lễ kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ La Vang hiện ra, tôi mời gọi các bạn luôn đào sâu đức tin của các bạn, hiệp nhất cùng các tín hữu công giáo của quê hương các bạn, để chuẩn bị một tương lai còn tốt hơn nữa cho các thế hệ mai sau của người Việt nam. Xin Đức Mẹ La Vang đến giúp đỡ các bạn và trong hành trình đức tin, xin Mẹ đi trước tất cả dân công giáo Việt nam đã được hiến dâng cho Trái tim Vô Nhiễm của Mẹ năm 1960".




Sự hiện diện của Đức cha Têphanô Nguyễn Như Thể làm cho chúng ta nhớ đến đền thánh Đức Mẹ La Vang, thuộc tổng giáo phận Huế, trong miền trung Việt nam. Cho Nữ vương các thánh tử đạo, Đức Trinh nữ Maria Diễm Phúc được tôn kính trong thành phố này từ 200 năm nay, chúng ta phó thác toàn thể cộng đồng Công giáo Việt nam, để cộng đồng này có thể sống và lớn lên trong bầu khí tự do và hòa bình, và góp phần đặc biệt vào việc thăng tiến dân sự và tiến bộ đạo đức của xứ sở".
Trong đại hội Giới Trẻ Thế Giới tại Denver thuộc tiểu bang Colorado Hoa Kỳ vào ngày 15.8.1993, Ngài lại nói đến Đức Mẹ La Vang ở phần cuối thông điệp gửi đến toàn thể giới trẻ: "Tôi xin phó thác toàn thể cộng đồng Công Giáo Việt Nam dưới sự bảo trợ của Đức Mẹ La Vang, Ngài là Mẹ yêu thương đã hiện ra vào năm 1798... Giờ đây, sắp sửa đến ngày kỷ niệm 200 biến cố nói trên; ước gì thời gian chuẩn bị lễ đệ nhị bách chu niên này cũng là thời gian tăng cường đức tin sốt sắng và hăng say sống đời Công Giáo, là thời gian liên kết với Giáo Hội bên quê nhà". Ngày 26.10.1994 tại Rôma, trong buổi triều yết chung, Đức Gioan Phaolô lại nhắc đến lễ kỷ niệm 200 năm.
Trong dịp tiếp kiến 14 vị Giám Mục Việt nam về Rôma "viếng mộ hai thánh Tông đồ" (Ad limina) ngày 24.12.1996, ĐTC Gioan Phaolô II đã nói: "Tôi xin phú dâng anh em nơi sự che chở hiền mẫu của Mẹ Chúa Kitô, Đức Mẹ La Vang, Đấng mà các anh em sắp mừng kỷ niệm 200 năm vào tháng 8.1998. Chớ gì Mẹ là vị hướng đạo cho anh em và cho các tín hữu của anh em trên con đường dẫn tới Chúa Giêsu, con của Mẹ..."
Vào dịp đại hội lần thứ 24, vào tháng 8.1997, Đức Gioan Phaolô II ủy quyền cho ĐHY Angelo Sodano, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh gởi thông điệp chào mừng: "Nhân dịp đại hội hành hương ba năm một lần tại đền Đức Mẹ La Vang, ĐTC chia sẻ niềm vui hiệp thông lời cầu nguyện của cộng đồng dân Chúa tại tổng giáo phận Huế và trong cả nước Việt Nam, chia sẻ lời cầu nguyện và niềm vui của các vị chủ chăn, cùng đi với họ tới La Vang tôn kính và ngợi khen Đức Trinh Nữ Rất Thánh, Đấng an ủi và nâng đỡ họ trong thời kỳ gian nan thử thách. ĐTC cũng khuyến khích các tín hữu sống đức tin cách kiên cường và can đảm, trong tinh thần hiệp thông sâu đậm với Giáo Hội. Như thế, các tín hữu sẽ xây dựng Giáo Hội là thân thể sống động của Chúa Kitô".  
Ngày 16.12.1997, Ngài lại viết: "Trong khi bắt đầu cử hành năm Toàn xá kỷ niệm 200 năm Đức Trinh nữ Maria hiện ra tại La Vang, tôi nhiệt tình chia vui và tạ ơn Thiên Chúa với các Giám mục Việt nam và các tín hữu giáo phận các Ngài. Tại đền thánh này, vốn được tín hữu Việt nam quý mến, vang lên một sứ điệp hy vọng mà Mẹ Thiên Chúa đã gửi cho con cái Người vào năm 1798, giữa những thống khổ về tinh thần cũng như thể xác, khi Mẹ nói "Các con hãy tin tưởng, hãy vui lòng chịu khổ. Mẹ đã nhậm lời các con kêu xin. Từ nay về sau hễ ai chạy đến cầu khấn cùng Mẹ ở chốn này, Mẹ sẽ nhậm lời ban ơn theo ý nguyện"




Và ngày 15.8.1999 dịp kết thúc năm toàn xá kỷ niệm 200 Đức Mẹ La Vang, Ngài còn viết như sau: "Nhân dịp bế mạc năm Thánh Mẫu và cuộc hành hương 3 năm một lần, lần thứ 25 đến đền thánh Đức Mẹ La Vang, tôi hiệp ý cầu nguyện cùng với các tín hữu Việt nam và những người hành hương đã chạy đến nhờ sự cầu bàu từ mẫu của Đức trinh nữ Maria, xin Mẹ rất thánh này cùng đồng hành với Giáo hội Công giáo Việt nam trong cuộc hành trình đến với Chúa và giúp đỡ Giáo hội này trong chứng từ mà Giáo hội này phải đưa ra ở ngưỡng cửa thiên niên kỷ thứ ba… Đặc biệt gần gũi với các bạn bằng ý nghĩ trong thời điểm này, thời điểm mà Giáo hội trong đất nước các bạn tôn kính Mẹ Đấng cứu độ, tôi phó thác các bạn vào sự cầu bầu của Đức Mẹ La Vang, và tôi thân ái ban phép lành Tòa Thánh cho chính Ngài và cho tất cả các vị Mục tử, cũng như cho các khách hành hương sẽ dừng chân tại đền thánh trong tinh thần năm Toàn xá, và cho các tín hữu Công giáo Việt nam…".


Đồ án công trình xây dựng Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ La Vang

TẠM KẾT.


Rất có thể chúng ta cảm thấy hơi thất vọng khi nhìn thấy chứng tích về Đức Mẹ La Vang quá ít, nhưng phải chăng chứng tích quan trọng hơn cả và được thấy cụ thể qua lòng sùng kính Đức Maria ngay từ khi Đức Maria hiện ra tại La Vang? Thêm nữa dù Giáo hội chưa cho một quyết định chính thức, nhưng qua các chứng từ của các Đức Giáo Hoàng cũng đủ cho thấy câu chuyện về Đức Mẹ hiện ra không đi ngược lại giáo lý của Giáo hội. Và cho đến ngày hôm nay, nhiều tác giả còn đang cố gắng đào sâu tìm hiểu ý nghĩa của sứ điệp La Vang, ví dụ như tác giả cuốn Đức Mẹ La Vang, tài liệu Thánh Mẫu học, Việt Nam 2003, trang 614, đề nghị đó là một "linh đạo hy vọng cho một thế giới mà nhiều người đang sống trong tuyệt vọng…"



http://danchua.eu/1987.0.html?&tx_ttnews%5Btt_news%5D=1226&cHash=fe006e4401

Thứ Ba, 5 tháng 8, 2014

6-8: MỪNG LỄ CHÚA HIỂN DUNG - SUY NIỆM


Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô 9: 1-9

Khi ấy, Chúa Giêsu đưa Phêrô, Giacôbê, và Gioan đi riêng với Người lên núi cao, và Người biến hình trước mặt các ông, và áo Người trở nên chói lọi trắng tinh như tuyết, không thợ giặt nào trên trần gian có thể giặt trắng đến thế. Rồi Êlia cùng Môsê hiện ra và đàm đạo với Chúa Giêsu.
Bấy giờ Phêrô lên tiếng thưa Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm, chúng con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia". Phêrô không rõ mình nói gì, vì các ông đều hoảng sợ. Lúc đó một đám mây bao phủ các Ngài, và từ đám mây có tiếng phán rằng: "Ðây là con Ta yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người". Bỗng nhìn chung quanh, các ông không còn thấy ai khác, chỉ còn một mình Chúa Giêsu với các ông.
Và trong lúc từ trên núi đi xuống, Chúa Giêsu đã ra lệnh cho các ông đừng thuật lại cho ai những điều vừa xem thấy, trước khi Con Người từ cõi chết sống lại. Các ông tuân lời căn dặn đó, nhưng vẫn tự hỏi nhau: "Từ trong cõi chết sống lại nghĩa là gì?"
Ðó là lời Chúa.


SUY NIỆM LỜI CHÚA


Có lẽ nếu ba tông đồ Phêrô, Giacôbê và Gioan hiểu được ý nghĩa qua cuộc hiển dung của Thầy mình, thì các ông đã không giữ thắc mắc trong lòng mãi đến sau này: "Từ trong kẻ chết sống lại nghĩa là gì?" Cái ý nghĩa hiển dung hay biến hình (tức biểu lộ bản thính Thiên Chúa của Chúa Giêsu) hoàn tất việc từ kẻ chết sống lại, và rất giống với sự biểu lộ bản tính Thiên Chúa trong bản tính nhân loại mà Chúa Giêsu tỏ ra cho ba tông đồ chiêm ngắm. Và điều gì đã xảy ra, hay đúng hơn đã biến đổi các tông đồ?

Đây là tất cả ước muốn tột đỉnh của các tâm hồn ngất ngây trong Chúa: "Lạy Thầy, chúng con ở đây thì tốt lắm, chúng con xin làm ba lều . . ." Tuy nhiên điều các ông nói chỉ đúng với thực trạng giới hạn trong thân phận nhân loại, đúng như Thánh Kinh xác định sau đó: Các ông nói mà chẳng biết mình đang nói gì! Bởi vì ở đây là ở đâu? Và cũng bởi vì chỉ trong chốc lát, các ông đã không còn nhìn thấy vinh quang sáng láng ấy nữa, nhưng đã trở về với trạng thái ban đầu "từ trong kẻ chết". Các ông đã "ở đây" ngay từ giây phút Chúa Giêsu gọi các ông theo Ngài, nhưng các ông đã không thể nhận ra bản tính Thiên Chúa trong Ngài cho đến khi Ngài từ trong kẻ chết sống lại.

Nhưng dù có nói những điều xem ra "ngớ ngẩn" đi nữa, thì chính ba tông đồ hiện diện trong cuộc hiển dung của Chúa Giêsu lại biểu lộ hành trình đức tin quí giá cho chung ta trong cuộc biến đổi cuộc đời "từ trong kẻ chết sống lại". Điểm thứ nhất biểu lộ thực tại thân phận con người giới hạn và yếu đuối trong chúng ta, đó là dù đã học biết và tin tưởng vào Chúa Giêsu, nhưng chúng ta vẫn chưa thực sự cảm nghiệm được bản tính Thiên Chúa của Ngài hiện thân trong bản tính nhân loại của mình. Nói cách khác, chúng ta đang có Ngài trong thân phận mình và trong thế giới này, nhưng vẫn ước vọng và cầu xin Ngài "ở đây" qua nhưng điều mình mộng ước theo nhu cầu và ý riêng mình. Và điều này cũng xác định chặng đường quan trọng của đức tin: chặng đường đêm tối đức tin trong cuộc đời. Chặng đường này dài lắm, sẽ kêu chúng ta luôn cần phải tiếp xúc với Chúa Giêsu để sống trong cuộc hiển dung với Ngài hằng ngày.

Điểm thứ hai chúng ta học được từ ba tông đồ trong cuộc hiển dung của Chúa Giêsu, là chính Chúa biến đổi toàn diện cuộc sống con người một cách tự động và tuyệt đối khi họ tiếp xúc với Ngài. Ba tông đồ mới chỉ tham dự vào cuộc hiển dung như những người chiêm ngưỡng, thì mắt các ông đã nhìn các thực tại về Chúa Giêsu và sự vật chung quanh hoàn toàn khác hẳn: Lạy Thầy ở đây thì tốt lắm. Tốt bởi vì quá sáng láng, vinh quang và thỏa mãn tất cả, không còn thèm khát bất cứ sự gì nơi trần thế nữa. Chính điều này xác định một thực tế biến đổi tâm hồn xảy ra nơi vô số các vị thánh nhân và những người tội lỗi; hoặc xảy ra cho bất cứ ai đang mong muốn gặp Chúa và để Chúa hành động hoàn toàn trong tâm hồn họ. Đây cũng là khía cạnh tin tưởng tuyệt đối của đức tin trên hành trình đức tin cuộc sống con người.

Và điểm thứ ba biểu lộ trong cuộc hiển dung của Chúa Giêsu cho ba tông đồ: Đó là cái thực tại "từ trong kẻ chết" sẽ kéo dài hết đời ta cho đến khi "sống lại". Sự hiển dung của Chúa Giêsu chỉ thực hiện được trong bản tính nhân loại mà thôi. Nếu không có bản tính nhân loại, thì Ngài đâu cần hiển dung; vả lại các tông đồ cũng sẽ không bao giờ được diễm phúc thấy cảnh huy hoàng ấy. Môsê trong cựu ước đã chứng kiến "ánh lửa" tượng trựng sự hiện diện của Thiên Chúa, mà mặt ông đã tràn đầy ánh sáng, bởi trong thực tế, thân phận con người giới hạn và hay chết không thể nhìn thấy Thiên Chúa vô cùng toàn năng được, phải chờ cho đến khi sống lại mới có thể chiêm ngưỡng vinh quang của Người. Do đó, tình trạng Thiên Chúa hiển dung trong bản tính nhân loại của chúng ta giống như tình trạng luôn bị che dấu qua các dấu chỉ thời đại, tức dấu chỉ của chính sự sống và các biến cố cuộc đời, nhất là qua các dấu chỉ của sự đau khổ tượng trưng cho tình trạng "từ trong kẻ chết", một sự tiềm ẩn của vinh quang sự sống. Và trong tình trạng tiềm ẩn vinh quang này, chúng ta sẽ có dịp đóng góp phần mình vào ơn cứu độ của Chúa Giêsu, Đấng đã dùng sự chết trong thân phận con người để biểu lộ sự phục sinh và lên trời vinh hiển, như con đường cứu chuộc nhân loại và là mẫu mực cho từng thân phận con người. 



Quả thực cuộc hiển dung của Chúa Giêsu chứa đựng tất cả hành trình đức tin được biểu lộ trong cuộc sống. Chúng ta có thể nhìn vào đó để bước đi từng ngày mà không sợ lạc lõng, nhất là trong các biến cố cuộc sống tiềm ẩn chặng đường đêm tối đức tin, bởi vì biết chắc chắn mình sẽ được từ trong kẻ chết sống lại cùng với Chúa Giêsu trên nước hằng sống.

http://www.cuocdoidanghien.com/index.php?option=com_content&view=article&id=884&lang=vi

Thứ Hai, 4 tháng 8, 2014

Từ vô thần sang Công giáo: Một câu chuyện của nghi ngờ, hiếu kỳ và cuối cùng là niềm vui - Jennifer Fulwiler


Nguồn: Đặng Tự Do
Người ta ước tính rằng khoảng 2 phần trăm của dân số thế giới là người vô thần. Trong nhiều năm, Jennifer Fulwiler, là một người trong số đó. Cô lớn lên trong một gia đình hạnh phúc nhưng vô tín ngưỡng. Thậm chí, cô tin rằng tôn giáo được dựa trên một câu chuyện cổ tích và Kitô giáo là một tôn giáo nguy hiểm. 
Jennifer Fulwiler, tác giả cuốn “Something Other Than God”, nghĩa là “Còn gì khác ngoài Thiên Chúa”, nói:

"Vâng, tôi đã từng xem Kitô giáo như một cái gì đó nguy hiểm và tôi thực sự muốn khuyến khích mọi người quên đi hệ thống niềm tin nguy hiểm này." 

Trong cuốn sách của mình, " Còn gì khác ngoài Thiên Chúa ", cô chia sẻ hành trình của mình. Tất cả mọi thứ từ sự thờ ơ, tới sự hiếu kỳ và cuối cùng là niềm vui. Cô nói rằng tất cả mọi thứ đã thay đổi khi cô và chồng có đứa con đầu tiên. Cô bắt đầu đặt ra nhiều câu hỏi hơn, mà chủ nghĩa vô thần không có thể trả lời. 

Jennifer giải thích:

"Chủ nghĩa vô thần nói rằng cuộc sống của con người chẳng qua chỉ là tình cờ ngẫu nhiên của một chuỗi những phản ứng hóa học và điều đó thực sự trái ngược với kinh nghiệm của tôi về cuộc sống và sự gặp gỡ với những người khác." 

Sau khi đọc tất cả các loại sách tôn giáo, với nhiều bất ngờ, cô tìm thấy sự thật trong Kitô Giáo. Cuối cùng cô và chồng cô đã trở thành người Công Giáo. Nhìn lại, cô cho biết cuộc sống của cô bây giờ là hoàn toàn khác trước đây. 

Jennifer nói thêm:

"Khi tôi còn là một người vô thần, tôi nghĩ rằng ý nghĩa của cuộc sống là phải có càng nhiều tiền càng tốt. Nhưng tôi nhận thấy không bao giờ là đủ. Ao ước được thăng chức nhưng khi được rồi, tôi lại muốn trèo lên cao hơn nữa. Có xe đẹp, tôi lại muốn có xe đẹp hơn. Tôi đã luôn luôn tìm kiếm một điều khác nữa."

Kể từ đó, đức tin của tôi đã phát triển và cả gia đình cô cũng đón nhận đức tin. Cô vẫn giữ liên lạc với một số bạn bè vô thần. Họ có thể không đồng ý về những gì là chân lý, nhưng họ nhìn nhận một sự thật rằng cô đã tìm thấy niềm tin thông qua lý trí. 

Jennifer nói tiếp:

"Tôi nghĩ rằng người Công Giáo đôi khi có chút do dự trước các cuộc đối thoại thân thiện với những vô thần, bởi vì họ có thể nghĩ rằng ‘Tôi không muốn nhìn vào những lập luận vô thần quá nhiều vì nó có thể làm lung lay đức tin của tôi và tôi có thể không thích những gì tôi tìm thấy. Tôi luôn luôn khuyến khích mọi người theo lời khuyên của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị: đừng sợ. Trước những thách đố của người vô thần, hãy khám phá mọi khả năng và bạn sẽ tự tin hơn nơi đức tin Công Giáo của mình. "
http://www.tinmung.net/TinTucTongHop/TinTuc_INDEX.htm

Tiếng kêu tuyệt vọng của Kitô hữu Iraq


7/24/2014 8:44:07 AMTrong mấy ngày qua các hàng tít lớn liên tiếp đưa hung tín đối với số phận Kitô hữu tại Mosul, Iraq, dưới sự đàn áp dã man của Duy Thánh Chiến Hồi Giáo ISIS:
IraqChristian.jpg  
Photo: Reuters/Stringer
“Hành quyết hay ra đi: các Kitô hữu Iraq đương đầu với chọn lựa tàn nhẫn”
“Iraq đang hướng tới thảm họa nhân đạo, văn hóa và lịch sử”
“Thánh chiến Hồi Giáo chiếm đan viện tại Iraq”
“Tự do tôn giáo lâm nguy”
“ISIS cướp chìa khóa tu viện của họ tại Mosul”
“ISIS tấn công Nhà Thờ Kitô Giáo Đã 1800 Năm Cổ Xưa, Và Hoàn Toàn Thiêu Rụi Cùng Phá Hủy Nó”.
“ISIS tại Mosul, Iraq: ‘Không trợ giúp Kitô Hữu và Người Shiites'”
“Bất hạnh bạn không phải là Người Hồi Giáo”
“Toàn Thiêu Kitô Hữu Đang Diễn Ra Tại Iraq, Mỹ và Thế Giới Đứng Nhìn”.

Mà không phải bây giờ, từ năm 2003, tình huống các Kitô hữu Iraq đã càng ngày càng trở nên tồi tệ rồi. Một phần vì Hoa Kỳ chưa bao giờ nhìn nhận rằng họ bị những người duy thánh chiến Hồi Giáo chọn làm mục tiêu tấn công, thành thử Hoa Kỳ không dành ưu tiên nào cho việc bảo vệ các Kitô hữu hay các nhóm thiểu số khác. Tuy nhiên, kể từ ngày nhóm duy thánh chiến ISIS ồ ạt tiến chiếm Mosul và nhiều thành phố khác, xem ra các Kitô hữu đang trên đà bị diệt chủng. Kể từ ngày 16 tháng 7, có tin ISIS đã bắt đầu lấy sơn đỏ đánh dấu các căn nhà của Kitô hữu. Lá thư của Thượng Phụ Louis Raphael Sako mà chúng tôi cho đăng tải dưới đây đã xác nhận tin đồn này. Dù chưa ai có thể biết chắc ý định của việc này, nhưng Đức Thượng Phụ Sako và nhiều nhà lãnh đạo Kitô Giáo đang khẩn thiết yêu cầu thế giới can thiệp trước khi ý nghĩa của dấu hiệu này rõ hơn. Vào đầu tuần rồi, nhà tranh đấu nhân quyền của Iraq là Pascale Warda đã từ Baghdad tới Hoa Thịnh Đốn để báo động với Bộ Ngoại Giao và các thành viên Quốc Hội. Bà được tháp tùng bởi giám mục Yousif Habash đến từ Qaraqosh, một thị trấn cách Mosul 15 dặm, vừa bị ISIS tràn ngập. Người Kitô hữu tại đây vẫn còn nói tiếng Aramaic, tiếng mà chính Chúa Giêsu từng sử dụng hàng ngày. Đức Cha Habash nói rằng “Kitô hữu khắp Trung Đông bị nhắm làm mục tiêu từ lâu và chúng tôi đang trên đà bị tận diệt. Tây Phương từng can thiệp để chặn đứng vụ thanh toán sắc tộc người Hồi Giáo Bosnia và người Hồi Giáo Kosovar, nên chúng tôi biết việc ấy nay cũng có thể được thực hiện. Tây Phương nay phải can thiệp và cứu các Kitô hữu Trung Đông, nếu không chúng tôi sẽ bị xóa sạch”. 

Thư kêu cứu của Thương Phụ Công Giáo Sako

Bức thư thống thiết của Thượng Phụ Sako, được công bố ngày 17 tháng 7 vừa qua, cũng cùng một âm sắc bi thiết như vậy, với nội dung như sau: 

Thượng Phụ Công Giáo Baghdad

Các Kitô hữu Mosul đang chết dần?

Gửi tất cả những ai còn có lương tâm tại Iraq và khắp thế giới
Gửi tiếng nói của anh em Hồi Giáo ôn hòa những người còn tiếng nói tại Iraq và khắp nơi trên thế giới
Gửi tất cả những ai quan tâm tới việc duy trì Iraq làm quê hương cho mọi con cái của nó
Gửi tất cả các nhà lãnh đạo tư tưởng và ý kiến
Gửi tất cả những ai công bố tự do của con người
Gửi tất cả những vị bảo vệ phẩm giá con người và tôn giáo

Chúc bình an và nhân hậu từ Thiên Chúa!

Việc kiểm soát do những người duy thánh chiến cực đoan Hồi Giáo thi hành trên thành phố Mosul, và việc họ công bố Mosul thành một Quốc Gia Hồi Giáo, sau ít ngày yên bình và đầy chờ mong, nay đang phản ảnh một cách tiêu cực lên dân số Kitô Giáo của thành phố và các vùng phụ cận. 

Dấu hiệu khởi đầu là việc bắt cóc hai nữ tu và ba trẻ mồ côi nhưng sau 17 ngày đã được thả tự do. Lúc ấy, chúng tôi cảm nhận việc này như một tia hy vọng và như việc khai quang bầu trời sau nhiều bóng mây giông bão xuất hiện. 

Đột ngột, chúng tôi ngạc nhiên trước những biến cố gần đây hơn như việc công bố quốc gia Hồi Giáo và việc loan báo lời kêu gọi mọi Kitô hữu và rõ ràng yêu cầu họ trở lại Hồi Giáo hoặc phải trả jizyah (thứ thuế mà mọi người không phải là Hồi Giáo phải trả khi sống trên lãnh thổ Hồi Giáo), mà không ấn định số tiền chính xác. Chọn lựa thay thế duy nhất là rời bỏ thành phố và nhà cửa của họ với mảnh áo đang mặc mà thôi, chứ không được đem theo bất cứ thứ gì khác. Hơn nữa, theo luật Hồi Giáo, khi họ ra đi, nhà cửa của họ sẽ không còn là tài sản của họ nữa nhưng sẽ bị trưng thu tức khắc làm tài sản của nhà nước Hồi Giáo.

Các nhà thờ công giáo tại thành phố Mosul, Iraq bị quân thánh chiến Hồi giáo tàn phá

Trong mấy ngày gần đây, người ta đã cho viết chữ “N” bằng tiếng Ả Rập lên tường đằng trước các căn nhà của Kitô hữu, có nghĩa là “Nazara” (Kitô hữu), và trên tường đằng trước các căn nhà của người Hồi Giáo Shiites chữ “R” nghĩa là “Rwafidh” (thệ phản hay bác bỏ). Chúng tôi không biết việc gì sẽ xẩy ra trong những ngày tới vì tại một quốc gia Hồi Giáo, Al-sharia hay bộ luật Hồi Giáo rất có uy quyền và từng được giải thích nhằm đòi phải phát hành thẻ căn cước mới cho dân chúng dựa trên việc thống thuộc tôn giáo hay giáo phái. 

Việc phân loại dựa vào tôn giáo hay giáo phái này cũng giáng họa cho cả người Hồi Giáo nữa và đi ngược lại qui luật của tư tưởng Hồi Giáo vốn được phát biểu trong kinh Kôrăng rằng “Anh có tôn giáo của anh và tôi có tôn giáo của tôi” và một chỗ khác trong Kinh Kôrăng dạy rằng “Không có việc cưỡng bức trong tôn giáo”. Chính xác, đây là một mâu thuẫn trong đời sống và lịch sử của thế giới Hồi Giáo trong hơn 1400 năm nay và trong việc chung sống với các tôn giáo và các quốc gia khác tại Đông Phương.

Từ trước đến nay, vốn có sinh hoạt huynh đệ giữa người Kitô Giáo và người Hồi Giáo, với lòng kính trọng tín ngưỡng và tín điều của nhau. Tại đây, tại Đông Phương này, người Kitô Giáo từng chia sẻ biết bao, đặc biệt ngay từ những ngày đầu của Hồi Giáo. Họ chia sẻ mọi hoàn cảnh ngọt bùi và cay đắng của cuộc đời; máu người Kitô Giáo và người Hồi Giáo từng được hòa lẫn với nhau khi đổ ra để bảo vệ quyền lợi và lãnh thổ của họ. Cùng nhau, họ đã xây dựng văn minh, các thành thị, và cả một gia tài. Nay quả là bất công khi cư xử tàn tệ với các Kitô hữu bằng cách bác bỏ họ và vứt họ đi, coi họ như số không. 

Rõ ràng hậu quả của những kỳ thị được cưỡng đặt hợp lệ này sẽ là một khử trừ rất nguy hiểm đối với khả thể chung sống giữa các khối đa số và các khối thiểu số. Nó gây hại cho cả người Hồi Giáo trong tương lai gần cũng như trong tương lai xa. 

Nếu chiều hướng này cứ tiếp diễn được theo đuổi, thì Iraq sẽ phải mặt đối mặt với thảm họa nhân đạo, dân chính, và có tính lịch sử. 

Chúng tôi hết sức kêu gọi; chúng tôi kêu gọi qúy vị bằng tình huynh đệ, trong tinh thần anh em nhân bản; chúng tôi khẩn thiết kêu gọi qúy vị; bị nguy hiểm thúc đẩy và bất chấp nguy hiểm, chúng tôi kêu gọi tới qúy vị. Chúng tôi khẩn nài cách riêng các anh em Iraq của chúng tôi, xin họ suy xét lại và suy nghĩ lại chiến lược họ từng theo đuổi và yêu cầu họ tôn trọng những con người vô tội và không vũ khí thuộc mọi quốc tịch, tôn giáo và giáo phái. 

Kinh thánh Kôrăng từng truyền cho các tín hữu phải tôn trọng người vô tội và không bao giờ kêu gọi các tín hữu chiếm hữu vật dụng, của cải, tài sản của người khác bằng vũ lực. Kinh Kôrăng buộc phải dành nơi nương náu cho quả phụ, cô nhi, người nghèo, và người không vũ khí và tôn trọng “tới người hàng xóm thứ bẩy”. 

Chúng tôi kêu gọi các Kitô hữu trong vùng hành động hợp lý và khôn ngoan và cân nhắc cũng như lên kế hoạch mọi sự một cách tốt nhất có thể. Xin họ hiểu thấu những gì được lên kế sách cho vùng này, thực hành tình liên đới trong yêu thương, cùng nhau khảo sát các thực tế và nhờ thế có khả năng cùng nhau tìm ra những cách thế xây dựng lòng tin nơi họ và nơi người lân cận. Xin để họ được sống gần Nhà Thờ của họ và ở quanh nhà thờ ấy; chịu đựng thời gian thử thách và tiếp tục cầu nguyện cho tới ngày bão tố qua đi. 

† Louis Raphael Sako 
Thượng phụ Babylon của tín hữu Canđê

Tây phương đứng nhìn

Lời kêu gọi trên đã bị Tây Phương và thế giới nói chung làm ngơ. Ít nhất thì đây cũng là nhận định của chuyên viên về an ninh quốc gia, Tiến Sĩ Sebastian Gorka. Chuyên gia này cho rằng mặc dù việc thanh trừng “những người đồng đạo của chúng ta còn sót lại tại Trung Đông” là dịch bản của Nạn Diệt Chủng trước đây nhưng đã bị truyền thông chính dòng tại Hoa Kỳ làm ngơ. Vì họ hoàn toàn ủng hộ chủ trương của Nhà Trắng, một chủ trương cho rằng TT Obama “một tay” giết chết Osama Bin Laden, và Al Qaeda hiện sắp bị diệt vong, cho nên các tên duy thánh chiến hẳn đang co cụm khắp thế giới, chẳng cần phải làm gì cả. 

Gorka nói rằng quan điểm thiển cận chỉ nhắm vào Al-Qaeda này đang cung cấp thời cơ cho những tên duy thánh chiến khác và khiến quái thai ISIS xuất hiện. Thêm vào đó, truyền thông chính dòng bị uốn cong bởi thế giới quan của họ: một thế giới quan duy hậu hiện đại, giả mạo, và duy tục. Thành thử khi đụng tới ý tưởng bách hại tôn giáo, họ bèn bảo: ‘đâu cần phải quan tâm vì tôi đâu có tin Thiên Chúa!’

Và hậu quả là hiện nay, người Kitô hữu cuối cùng đã phải rời bỏ Mosul với chỉ mảnh vải che thân trên người. Bản tin ngày 21 tháng 7 của Zenit cho hay hơn 1,500 Kitô hữu đã phải trốn chạy khỏi Mosul, sau khi bị Quốc Gia Hồi Giáo Iraq và Đông Phương (ISIS) ra tối hậu thư đòi họ và những người “đa thần” khác phải trở lại Hồi Giáo hay trả thuế jizya. “Nếu từ khước, họ chẳng còn gì ngoài lưỡi gươm”. 

Tuyệt vọng: Một người phụ nữ Kitô hữu và hai con chạy trốn khỏi bạo lực ở Mosul, Iraq,
ngày 27 Tháng Sáu tại nơi trú ẩn ở Irbil, Iraq. Ảnh: CNS / Ahmed Jadallah, Reuters

Họ đã chọn bỏ đi bằng chân giữa đêm khuya. Các thánh giá, tượng ảnh và các biểu tượng Kitô Giáo khác đã được gỡ xuống khỏi các tòa nhà Giáo Hội trong thành phố và trong một số trường hợp được thay thế bởi lá cờ đen của quốc gia Hồi Giáo.

Những người ra đi vẫn không được yên, họ bị chặn lại và buộc phải trao mọi của cải kể cả tiền bạc và xe cộ. Nhà cửa và mọi tài sản khác của họ để lại đã bị những người duy thánh chiến cướp lấy. Trong khi ấy, đan viện cổ Mar Behnam, bên ngoài Mosul, đã bị chiếm đóng, các đan sĩ và người giúp việc bị đuổi đi, không được mang theo vật dụng gì.



Vũ Văn An

BÀI ĐỌC THÊM:
http://gpcantho.com/Bai-Viet-Giao-Phan-Can-Tho-Gi%C3%A1o-H%E1%BB%99i-C%C3%B4ng-Gi%C3%A1o-t%E1%BA%A1i-Iraq-6000.aspx