Thứ Hai, 10 tháng 11, 2014

Thánh Stêphanô Théodore CUENOT (THỂ) Thánh Tổ Phụ Giáo Phận Kon Tum





  Như một Phaolô ngày xưa .

  Cuộc đời thánh giám mục Cuênot (Thể) với 32 năm phục vụ Giáo Hội Việt Nam, 26 năm trong chức giám mục, gắn liền với những trang sử đẹp nhất, giữa một giai đoạn khó khăn nhất thời bách hại. Nhiệt tâm truyền giáo của Ngài như ngon thủy triều dâng tràn đến mọi người mọi nơi. Với tài đức khéo léo, Ngài đã đào tạo một đội ngũ linh mục xuất sắc và hàng ngàn thày giảng, nữ tu hăng say. Với châm ngôn:”Để tín hữu vững tin, phải đào tạo những tông đồ truyền giáo”, nên dù cho bao linh mục, tu sĩ, giáo dân của ngài bị tàn sát , địa phận Đàng Trong của ngài vẫn phát triển mạnh mẽ, đủ sức tách làm bốn địa phận. Số linh mục , tu sĩ, tân tòng gia tăng nhanh mỗi năm, sẽ mãi mãi là bằng chứng của nhiệt tâm và tài tổ chức của ngài.
  Stephano Théodore Cuênot sinh ngày 08-2-1802 tại Sous Réamont thuộc Bélieu, nước Pháp. Lớn lên cậu vào chủng viện Besancon, và thụ phong linh mục 24-9-1825. Tuy thế, hoài bảo chính của tân linh mục là đi truyền giáo. Năm 1828, cha Cuênot xin gia nhập Hội Thừa Sai Paris, và năm sau được cử đến Việt Nam. Ngày 31-5-1829, cha đến Kẻ Vĩnh, dịa phận Đàng Ngoài . Ngày 24-7 cha vào miền Nam.
   Mới đầu cha được gởi đến Lái Thiêu để học thêm tiếng Việt, đồng thời dạy các chủng sinh ở đó. Bốn năm dạy ở chủng viện, tuy là thời gian ngắn ngủi, nhưng cũng đủ để cha hiểu nhiều về phong hóa địa phương, gắn bó với các cộng tác viên tương lai. Năm 1833, vua Minh Mạng ra chiếu chỉ cấm đạo trên toàn quốc, triệt hạ các nhà thờ, tập trung các thừa sai và bắt các tín hữu phải bỏ đạo. Vì mới lần đầu va chạm với bách hại, các tín hữu khi đó chưa dám chứa chấp các vị thừa sai. Đức cha Tabert Từ liền quyết định đưa các vị di tản qua Thái Lan. Cha Thể phụ trách phụ trách việc di tản 15 chủng sinh. Sau hơn một tháng rưởi hành trình vất vả,đoàn người đã đến Thái Lan và đươc vua Thái tiếp đón nồng nhiệt.
    Thời gian đó, Thái Lan và Việt Nam đang có chiến tranh, nên vua Thái muốn nhờ các vị thừa sai kêu gọi dân công giáo chống lại vua Minh Mạng. Dĩ nhiên Đức cha Tabert Từ không thể nào chấp nhận, ngài cương quyết từ chối. Điều đó làm Thái Hoàng nổi giận và thay đổi cách cư xử. Nhà vua ra lệnh bắt giam ba linh mục và các chủng sinh Vệt Nam. May nhờ tài ăn nói thuyết phục của cha Thể, vua mới nương tay và cho họ đến ẩn náu tại chủng viện Pénang ( Mã Lai ) năm 1834. Cha nói :
   “Bằng mọi giá phải lo cho họ. Như tôi ( một thừa sai) chết, người ta có thể gửi người khác thay thế chậm lắm là một năm. Một linh mục, chủng sinh Việt nam nằm xuống, phải mất hai ba chục năm mới có người thay thế được”.
  Cũng năm đó , vì không ủng hộ Thái Lan đánh Việt Nam, Đức Cha Tabert Từ lại phải chạy đến Singapor.


  Hoa tiêu giữa sóng gió .
    Tuy sống cách xa nghìn dặm, Đức cha, cha Thể và các vị thừa sai vẫn hướng tâm hồn về Giáo Hội Việt Nam đang lâm cảnh máu chảy đầu rơi, vừa thương xót vừa thán phục, các ngài tìm cách trở lại miền đất truyền giáo này. Năm 1835, Đức Cha Tabert có quyết định mới. Khi thấy trên mảnh đất Lạc Hồng chỉ còn hai thừa sai và 10 linh mục Việt Nam, Đức cha liền đáp tàu sang Pénang, truyền chức Giám mục cho cha Thể, chọn làm phụ tá mình, và cử vị tân Giám muc cấp tốc trở về địa phận.
   Trở lại Việt Nam trong những ngày bách hại khốc liệt, sự hiện diện của Đức cha Thể quả là niềm an ủi lớn lao cho các tín hữu. Đặt trụ sở ở Gò Thị, tỉnh Bình Định, Đức cha thấy mình không thể đi thăm hết các họ đạo được, Ngài liền viết thư luân lưu gửi đến khắp nơi để cổ võ tinh thần đạo đức của giáo hữu. Từ nay tất cả các biến cố trong địa phận: Những cuộc càn quét của quân lính, những chứng nhân bị bắt giam, những cuộc tử đạo, cho đến những thành quả tông đồ, đều được người cha chung địa phận cảm thông, viết thư khen ngợi, ủy lạo hay khích lệ. Nhờ đó, các linh mục và giáo hữu đều thấy thêm can đảm.
   Việc Đức cha bận tâm nhất là sĩ số các linh mục phục vụ. Ngoài hai linh mục đã theo ngài về từ Thái Lan, năm 1835, Đức cha truyền chức cho 10 thày giảng. Năm sau, Ngài xin Hội Thừa Sai thêm được sáu linh mục. Là người sáng suốt nhìn xa trông rộng , Đức cha cho tái lập hai chủng viện , một ở Huế trao cho cha Candalh Kim và một ở miền Nam trao cho cha Lefebre Nghĩa. Đồng thời Đức cha cũng gọi các nữ tu Mến Thánh Giá trước đây đã phải phân tán về gia đình ( 250 dì) trở lại sống chung và hoạt động trong 18 nhà phước.
   Ngày 31-7-1840, Đức cha Tabert Từ qua đời tại Calcuta ( Ấn Độ ), Đức cha Thể chính thức làm đại diện Tông tòa. Năm sau ngài tổ chức lể tấn phong cho tân Giám mục Lefebre làm phụ tá. Lợi dụng tình hình lắng dịu hơn, ngài tổ chức Công Đồng Gò Thị ( 1841) gồm ba thừa sai và 13 linh mục Việt trong địa phận. Công đồng dưới sự điều khiển của Đức cha Thể, đã đưa ra những nguyên tắc sáng suốt để đào tạo một lớp linh mục bản xứ đông đảo và nhiệt thành. Nếu việc mở chủng viện khó khăn, mổi thừa sai có trách nhiệm dạy sáu bảy em, rồi gửi qua Pénang học bảy năm. Họ sẽ về Việt Nam thụ phong linh mục và làm việc. Cách tổ chức ấy trong thực tế đã cung cấp cho địa phận Đàng Trong một số khá đông linh mục thông thái và đạo đức.
Tượng Đức Thánh GM Tử đạo Stéphanô Cuénot (Thể), Thánh Tổ phụ & Đấng sáng lập Giáo phận Kon Tum, bên cạnh Nhà thờ Chính Tòa Giáo phận Kon Tum

   Vị chủ chăn nhiều tài năng và sáng kiến
   Dù hoàn cảnh khó khăn, Đức cha vẫn quan tâm đến việc nâng cao kiến thức và nhân đức cho hàng giáo sĩ, mổi năm ngài gửi cho các linh mục những bài học hỏi về tín lý, luân lý. Các cha sẽ viết bài rồi nộp trong kỳ tĩnh tâm hàng năm. Sau đó chính Đức cha đọc, sửa bài và gửi thư nhắn nhủ cho từng linh mục. Đối với giáo hữu, Đức cha chủ trương rằng “ Phương pháp tốt nhất để đức tin của giáo hữu vững vàng là đào tạo họ thành những tông đồ truyền giáo”. Thực vậy, nhờ giải thích cho người khác về giáo lý, các giáo hữu ngày càng xác tín hơn về niềm tin của mình. Hơn nữa, họ tự thấy nghĩa vụ làm gương cho anh em tân tòng về đời sống đạo và tinh thần can đảm giữ vững đức tin.
   Đối với những giáo hữu vì sợ hãi đã xuất giáo, đạp lên Thánh Giá, Đức Cha sẵn lòng thay mặt Chúa tha thứ. Nhưng ngài xin họ nhận một điều kiện là hứa giúp cho một lương dân theo đạo Công Giáo. Bên cạnh đó, hàng năm Đức Cha làm thống kê báo tin xứ đạo nào có nhiều tân tòng hơn, khiến các xứ thi đua làm việc tông đồ. Đăc biệt phải nói đến lòng can đảm của các nữ tu Mến Thánh Giá. Các chị chia nhau, cứ hai người một, đi hết các làng mạc, phát thuốc men cho bệnh nhân, và khi có thể, rửa tội cho trẻ em sắp chết. Nếu năm 1835, khi Đức cha mới về nước (Việt Nam), số trẻ em ngoại giáo được rửa tội 133 em, thì năm 1841 là 1800 em và năm 1843 là 8.273 em. Năm 1844, số trẻ em gia đình Công Giáo được rửa tội là 5.056 thì số người lớn trở lại và rửa tội là 1.007, nghĩa là một phần năm .
   Nhiều giáo hữu sẵn sàng bỏ tiền bạc, công sức nuôi dùm trẻ em những người quá nghèo, chỉ với điều kiện là cho em gia nhập đạo. Lòng bác ái sâu xa ấy quả là bài giảng hùng hồn về sức sống của Giáo Hội. Nhiều người thiện chí, và đôi khi cha mẹ các em cũng xin trở lại vì những bài giảng sống này.
   Một công trình lớn lao khác của Đức cha Thể là công cuộc truyền giáo cho các dân tộc thiểu số miền Thượng du, đặc biệt là dân tộc Bahnar, Chính Đức Cha cử nhiều đợt người theo dõi, khích lệ và đưa ra những chỉ đạo thích hợp để anh em thượng nhận được Ánh Sáng Tin Mừng.
   Những thành công lớn lao của Đức Cha đã được Tòa Thánh công nhận, năm 1844 khi phân chia địa phận Đàng Trong thành hai địa phận Đông ( Qui Nhơn) và Tây (Saigon). Tiếp theo đến năm 1850 lại chia làm bốn là Nam Vang, Saigon, Bắc(Huế) và Qui Nhơn. Từ đây Đức Cha Thể chỉ coi sóc địa phận Đông Đàng Trong, nhưng lại ở trong tình hình bách hại mới gay gắt hơn nhiều .
Tượng Thánh Stéphanô Cuénot (Thể)&Nhà thờ Chính tòa Kon Tum

   Lòng Kính Mến Đức Mẹ
  Trong 10 năm liền , nhờ sự che chở của các tín hữu và các nữ tu Mến Thánh Giá, Đức Cha và các linh mục thoát khỏi các cuộc truy lùng. Thế nhưng các ngài phải thay đổi chổ ở liên tục, nhiều đêm ngủ ngoài trời “đếm sao” có lúc phải vào rừng sâu hay đầm lầy, chịu đói chịu khát, chịu khí hậu thất thường và nhiều lần suýt chết trong khi thăm viếng bệnh nhân hay giải tội cho người hấp hối. Thế mà trong thời gian này, Đức Cha duy trì thường xuyên mối liên lạc với Tòa Thánh. Đặc biệt khi được hỏi về  tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm, Ngài đã trao đổi với các linh mục trong địa phận, rồi gửi thư bày tỏ lòng kính mến Đức Maria của dân Việt cho Tòa Thánh. Cuối thư Đức cha viết :
  “Xin Đức Thánh Cha cho con được hiệp thông trong lời cầu nguyện cùng với tất cả các giám mục khác trong ngày Đức Thánh Cha long trọng công bố tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội “


     Tượng Thánh GM. Tử đạo Stéphanô Cuénot (Thể)

Tù Tội Vì Rao Giảng Tin Mừng
   Năm 1861 , chếu chỉ “phân sáp” của vua Tự Đức làm Giáo Hội Việt Nam một phen điêu đứng. Đức Cha Thể đã khuyên các thừa sai trong địa phận di tản vào Saigon, nhưng chính ngài tình nguyện ở lại, ngài đưa ra một phương châm bất hủ: “Dù chỉ còn một thừa sai chẳng làm được gì ngoài việc đọc kinh thần vụ, thì nguyên việc hiện diện của vị đó đủ để nâng đở niềm tin và sinh hoạt của tín hữu rồi”.
   Từ tháng 10, Đức Cha phải bỏ Gò Thị trốn từ nhà này sang nhà khác. Ngày 24-10-1861, ngài đang ẩn ở nhà bà Madalena Huỳnh Thị Lựu thì quân lính bao vây nhà bà…
   Đức Cha và hai chú giúp lễ kịp trốn xuống hầm, nhưng vừa dâng lể xong chưa kip cất giấu đổ lễ. Vì chứng cớ ấy mà quân lính thề phá nhà, nếu không tìm thấy  đạo trưởng Tây dương. Mọi người trong nhà đều bị tra tấn, bà Lựu bị đánh đòn 17 roi. Sau hai ngày và một đêm ở dưới hầm, Đức Cha và hai chú giúp lễ khát khô cả cổ. Vả lại vì quân lính chẳng bỏ đi, nếu chưa bắt được Đức Cha, nên ngài tự ra nộp mình. Vừa thấy ngài, quân lính chồm tới trói chân tay ngài lại như một con thú. Nhưng viên chỉ huy nhân đạo hơn, cho cởi trói và mời ngài ngồi chiếu nói chuyện với ông ta.
     Hôm sau , Đức Cha bị nhốt trong cũi đưa về tỉnh. Hai chú giúp lễ, bà Lựu và hai người lân cận cũng mang gông giải đi ( sau này tất cả cùng bị xử tử tháng 12). Bà Lựu vừa cho con bú vừa ra pháp trường, rồi hôn con lần cuối trao lại cho bà ngoại. Tháng 10 năm đó, miền trung bị lụt, nước dâng lên đến lưng, nên ngồi trong cũi chật chội, Đức Cha cũng bị ngập nước, do đó, khi đến nhà giam thì Đức Cha lâm trọng bệnh. Chứng kiết lị làm sức khỏe ngài càng đuối dần, vì thế, ngài chỉ phải ra tòa một lần.
   Quan hỏi :
-    Tại sao ông sang nước tôi ?
-    Thưa ,để giảng đạo Thiên Chúa.
-    Ông ở đây bao lâu rồi ?
-    Ba mươi bốn năm.
-    Ông đã ở những đâu ?
-    Thưa, trước hết là Bình Định rồ Phú Yên, Bình Thuận và lại trở về Bình Định.
-    Ông biết gì về chiến tranh không ?
-    Thưa không biết gì cả. Tôi đến đây chỉ để giảng đạo, khi nơi này khi nơi khác thế thôi. Quan hành hạ thế nào tôi cũng đành chịu, chứ tin tức chiến tranh tôi hoàn toàn không biết gì cả.

Linh mục đoàn Giáo Phận Kon Tum về dự Tĩnh Tâm từ 03 đến 08-11-2014 tại Tòa Giám Mục Kon Tum

 Trở về với chiếc cũi của mình, cơn bệnh khắc nghiệt chỉ trong vòng ba tuần lễ đã làm Đức cha kiệt sức và thở hơi thở cuối cùng ngày 14-11-1861, kết thúc 32 năm truyền giáo không một ngày bình an.
    Hôm sau, ngày Đức Cha qua đời, bản án trảm quyết từ Huế mới đến Bình Định. Thấy Ngài đã từ trần, quan trấn thủ Bình Định không cho chém nữa, truyền đem đi chôn, những tín hữu đang bị tù xin phép mua cho Đức Cha một áo quan xứng đáng, nhưng trấn thủ không chấp thuận. Nhưng sau đó, triều đình lại gửi ra một bản án mới ghi thế này:
   “Tây dương đạo trưởng Thể đã lẩn lút trong nước ta 40 năm nay. Y đã giảng đạo và lừa dối dân chúng . Bị bắt và tra hỏi, y đã thú nhận mọi tội lỗi. Lẽ ra phải chém đầu y bêu lên giữa chợ nhưng vì y đã chết trong tù, ta truyền phải quăng xác y xuống sông “
    Chiếu theo bản án ấy, quan Trấn thủ cho đào mồ Đức Cha lên , để liệng thi hài Đức Cha xuống sông .
     Mặc dù Đức Cha Cuenot (Thể) không đổ máu vì Đức tin, nhưng căn cứ vào bản án và muôn ngàn nỗi truân chuyên ngài đã chịu vì đạo, Giáo Hội đã tôn kính Đức Cha với tước hiệu tử đạo .
    Ngày 02-5-1909 Đức Piô X nêu danh Đức Cha Stephano Théodore Cuenot (Thể) đứng đầu danh sách 20 vị tử đạo tại Việt Nam được suy tôn lên bậc Chân Phước.
    Ngày 19-06-1988 Đức Gioan-Phaolo II đã phong Ngài lên bậc Hiển Thánh .

     (Ghi lại từ quyển Thiên Hùng Sử , 117 Hiển Thánh Tử Đạo Việt Nam
        Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam, San Jose, California, Hoa Kỳ. giữ bản quyền)
                                                                                

 JB Kim Thông
GLV Kon Tum

Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2014

Đức Thánh Cha Phanxicô cử hành lễ Các Thánh Nam Nữ tại nghĩa trang Verano của Rôma


11/2/2014 2:24:17 PMCũng như năm ngoái, buổi chiều ngày 1 tháng 11, Đức Thánh Cha Phanxicô đã cử hành lễ Các Thánh Nam Nữ tại nghĩa trang Verano của Rôma
PopeFrancis-01Nov2014-2.jpg

Trong bài giảng ứng khẩu Đức Thánh Cha Phanxicô đã trình bày những suy tư rút ra từ bài đọc thứ nhất trích từ sách Khải Huyền. Đức Thánh Cha đã tập trung vào ba hình ảnh. Đầu tiên là hình ảnh bốn vị thiên sứ cảnh báo chống lại sự tàn phá của Trái Đất. Ngài nói rằng có một ngạn ngữ nằm trong trái tim của tất cả chúng ta: "chúng tôi có thể hủy diệt thế giới tàn khốc hơn". Thực vậy, con người có khả năng tàn phá thế giới này hơn các thiên sứ: "tàn phá cuộc sống, văn hóa, các giá trị, và niềm hy vọng". 

"Chúng ta cần đến sức mạnh của Chúa biết bao để chúng ta có thể liên kết với tình yêu của Ngài mà ngăn chặn sự phá hủy kỳ công sáng tạo điên rồ này". 

Đức Thánh Cha sau đó đề cập đám đông không đếm nổi những con người đề cập đến trong bài đọc. Ngài so sánh các vị với những người bị lãng quên và vứt bỏ trong cuộc sống này. "Có vẻ như những người dân, các trẻ em đói khát và bệnh tật không được tính đến. Họ dường như là những sinh vật khác, không phải loài người. Đám đông cơ man những con người này đứng trước mặt Thiên Chúa ". 

Ngài khích lệ chúng ta nghĩ đến các vị thánh chúng ta không biết đến, là "những người đến từ cơn đại nạn ở nhiều nơi trên thế giới, những người đã được Chúa thánh hóa thông qua những hoạn nạn". 

Cuối cùng, Đức Thánh Cha nhắc đến hình ảnh thứ ba là Thiên Chúa: “Chúng ta là con cái Thiên Chúa; nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Nhưng chúng ta hy vọng chúng ta sẽ nên giống như Người. Chúng ta hy vọng Chúa sẽ thương xót dân Người”.

Đức Thánh Cha nhắc nhở các tín hữu rằng "để hành trình về với Chúa Cha, trong thế giới đầy những tàn phá của chiến tranh, của hoạn nạn, chúng ta phải hành động theo các mối phúc thật. Đó là con đường sẽ cứu chúng ta. Tuy con đường này sẽ dẫn chúng ta đến với những khó khăn và bách hại, nhưng chỉ có con đường này sẽ dẫn chúng ta tiến về phía trước.” 

"Những người đi tiếp trên con đường của các mối phúc thật sẽ gặp gỡ Thiên Chúa và nên thánh". 

Nghĩa trang rộng lớn Verano được hình thành từ gia đình Verani là một gia đình thế giá trong thời Đế quốc La Mã. Nơi đây đã là một nghĩa trang kể từ thời kỳ này. Kiến trúc sư Ý Giuseppe Valadier đã tạo nên những nét hùng vĩ và đầy ấn tượng của nghĩa trang này. 

Nghĩa trang Verano đã được thánh hiến vào năm 1835 và các công trình vẫn được tiếp tục xây dựng nơi đó trong suốt triều đại giáo hoàng Gregôriô thứ 16 và Piô 9 dưới sự giám sát của Virginius, và Ernestus Immanuel là người đã thiết kế một mái che bốn mặt lớn tại lối vào. 

Tuy nhiên mái che này đã bị lực lượng Đồng Minh thả bom nhầm vào năm 1943 và công việc phục hồi sau đó đã được thực hiện như ta có thể thấy ngày hôm nay khi vào nghĩa trang này với ba lối vào lớn và bốn bức tượng đá cẩm thạch hùng vĩ mô tả việc chiêm niệm, hy vọng, lòng bác ái và sự im lặng. 

Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhắc tới vụ đánh bom nghĩa trang Verano và vùng lân cận San Lorenzo của Rôma trong bài giảng của ngài khi lên án sự tàn phá các kỳ công sáng tạo, sự sống và các nền văn hóa đang diễn ra trong thế giới ngày nay và cầu xin Chúa giúp đỡ ngăn chặn cơn sốt điên dại hướng tới sự hủy diệt này. 

Điều thú vị là nghĩa trang cũng có một đài tưởng niệm những người đã nằm xuống trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất.
PopeFrancis-01Nov2014-3.jpg

PopeFrancis-01Nov2014-4.jpg

PopeFrancis-01Nov2014-5.jpg PopeFrancis-01Nov2014-6.jpg

PopeFrancis-01Nov2014-7.jpg

PopeFrancis-01Nov2014-8.jpg

PopeFrancis-01Nov2014-9.jpg

PopeFrancis-01Nov2014-10.jpg

PopeFrancis-01Nov2014-11.jpg

PopeFrancis-01Nov2014-12.jpg

PopeFrancis-01Nov2014-13.jpg

PopeFrancis-01Nov2014-14.jpg

PopeFrancis-01Nov2014-15.jpg

PopeFrancis-01Nov2014-16.jpg

PopeFrancis-01Nov2014-17.jpg


Đặng Tự Do
http://conggiao.info/news/809/25382/duc-thanh-cha-phanxico-cu-hanh-le-cac-thanh-nam-nu-tai-nghia-trang-verano-cua-roma.aspx
-----------------------------------------------------
Xin cùng hiệp thông với Đức Thánh Cha Phanxicô và toàn thể Giáo Hội dâng lời cầu xin Lòng Thương Xót Chúa cho mọi tín hữu đã ly trần đều được an nghỉ vui hưởng phúc trường sinh trong Nước Chúa! A men
P. Mai Tự Cường (MTC)

Thứ Tư, 29 tháng 10, 2014

ĐTC. PHANXICÔ: Hãy là con cái của sự sáng - VRNs


VRNs (28.10.2014) -Sài Gòn- theo news.va-
 Trong thánh lễ sáng thứ hai, 27.10, Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng cần thực hành việc kiểm điểm lương tâm để giúp chúng ta nhận ra mình là những Kitô hữu ở lại trong sự sáng hay trong bóng tối hoặc đang mang màu xám xịt.
1Suy gẫm dựa vào bài đọc thứ I, trích từ ​​Thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Êphêsô, ĐTC nói rằng con người sẽ bị đánh giá dựa vào những ngôn từ họ dùng. Thánh tông đồ mời gọi các Kitô hữu hãy trở nên như con cái của sự sáng, chứ đừng ở lại trong bóng tối, Thánh Phaolô đưa ra “một bài giáo lý về việc dùng ngôn từ”.
ĐTC nói rằng có các loại  ngôn từ cho ta thấy mình đang lưu lại trong bóng tối:
ĐTC đặt những câu hỏi để giúp mỗi người nhận ra các loại ngôn từ này là: “Những lời đạo đức giả mà ta dùng? Đó là loại ngôn từ được lượm chỗ này một tí, chộp nơi kia một chút rồi sử dụng để thích nghi cho tất cả mọi người. Cuối cùng đó chỉ là những lời ngớ ngẩn, không có chất lượng, trống rỗng. Lời nói phát ra cách thô tục, tầm thường, hoặc rất thế gian? Đó là những lời thô tục, cợt nhả, nhảm nhí? Những kiểu nói như thế làm cho chúng ta không còn là con cái sự sáng, không có Chúa Thánh Thần, không có Đức Giêsu, không có những lời của Tin Mừng … Đó là lối nói bàn về những chuyện: thô tục, dâm ô, thế gian, trống rỗng và đạo đức giả”.
Ảnh minh họa

ĐTC đặt câu hỏi: Vậy những lời nào thánh Tông đồ khuyên chúng ta dùng để trở nên con cái sự sáng?
“Thánh Phaolô nói : “Hãy bắt chước Thiên Chúa, bước đi trong tình yêu, bước đi trong sự nhân từ; bước đi trong sự hiền lành. Thánh Phaolô khuyên chúng ta hãy có lòng thương xót, tha thứ cho nhau như Chúa đã tha thứ cho anh em trong Chúa Kitô. Và như thế chúng ta là con cái của sự sáng”.
“Có những Kitô hữu phản chiếu sự sáng, họ đầy ánh sáng. Đó là những tâm hồn tìm kiếm để phục vụ Chúa trong ánh sáng” và “có những Kitô hữu ở lại trong bóng tối” đó là người có “một cuộc sống tội lỗi, một cuộc sống xa Chúa” và là người sử dụng các kiểu ngôn từ trên kia, những loại ngôn từ “thuộc về tội lỗi”. Nhưng cũng có một nhóm Kitô hữu thứ ba, đó là “không phải ánh sáng cũng không phải bóng tối”, mà là màu xám.
Ảnh minh họa
“Các Kitô hữu màu xám là dạng không có Chúa, cũng không theo ma quỷ. Họ thuộc dạng hâm hẩm. Họ không phải là ánh sáng cũng không phải bóng tối. Và Thiên Chúa không thích những loại người như thế. Trong sách Khải Huyền, Thiên Chúa nói với các Kitô hữu màu xám này rằng: “Ngươi không nóng cũng không lạnh. Hoặc là ngươi nóng hoặc ngươi lạnh. Nhưng bởi vì ngươi hâm hẩm, ta muốn nôn mửa ngươi ra.” Chúa đã dùng những từ rất mạnh đối với các Kitô hữu mang màu sắc xám xịt này. ‘Tôi là một Kitô hữu, nhưng không là Ki-tô hữu chính danh. Những điều họ làm, họ nói nhiều khi gây ra gương mù nặng nề tai hại, vì cuối cùng đời sống của họ chỉ là phản chứng. Nó gây ra những điều tiêu cực”.
ĐTC kết luận bài giảng như sau: Đừng để chúng ta bị lôi kéo vào những lời trống rỗng. Chúng ta nghe rất nhiều lời, có những lời hoa mỹ nhưng toàn trống rỗng, không ý nghĩa. Thay vào đó, chúng ta hãy hành xử như những con cái sự sáng. Ngày hôm nay chúng ta hãy suy nghĩ và tự chất vấn mình: Tôi có là một Kitô hữu ở trong sự sáng không? Hay là Kitô hữu ở lại  trong bóng tối? Tôi có phải là một Kitô hữu mang màu sắc xám xịt,  hâm hẩm không? Tự vấn như thế, chúng ta mới có thể tiến lên trên hành trình gặp gỡ Thiên Chúa”.
Hoàng Minh
http://chuacuuthenews.wordpress.com/2014/10/28/dtc-hay-la-con-cai-cua-su-sang/#more-42669

Thứ Năm, 16 tháng 10, 2014

18/10: Mừng Kính Thánh sử Luca, Tác giả Sách Tin Mừng thứ ba & Sách Tông Đồ Công Vụ


Ngày 18/10:
Thánh LUCA, thánh sử
Theo các nhà Kinh Thánh học, thánh Luca đã hiến cho chúng ta hai tác phẩm: một là cuốn Tin Mừng thứ ba và hai là sách Tông Đồ Công Vụ.
Qua các tông đồ, nhất là Mẹ Maria và thánh Phaolô, thánh Luca đã ghi lại tiểu sử của Chúa Giêsu bằng những nét đặc sắc. Ngài đã hết lòng ca tụng ơn cứu độ và lòng từ bi của Thiên Chúa. Qua những truyện như: Người con phung phá, người Samaritanô nhân hậu, ông Giakêu, người trộm lành... chúng ta thấy đuợc phần nào chủ ý của thánh nhân khi ngài muốn trình bày cho chúng ta thấy một cách cụ thể về lòng từ bi của Thiên Chúa. 
Thánh Sử Luca, mừng kính ngày 18/10 - "Theo một truyền thuyết thì thánh nhân đã họa bức ảnh chân dung Đức Mẹ đầu tiên mà nay chúng ta quen gọi là ảnh “Đức Mẹ hằng cứu giúp”. 
Tin Mừng thánh Luca cũng là Tin Mừng về đời sống cầu nguyện. Ngài đặt trước mắt chúng ta gương cầu nguyện của Chúa Giêsu trước khi Chúa chịu phép rửa, trước khi khi chọn môn đệ, trước khi biến hình sáng láng, lúc hấp hối trong vườn Giệtsimani và cả trên thánh giá. 
Tin Mừng của ngài là Tin Mừng cho những người bị áp bức. Không Tin Mừng nào làm cho chúng ta có thể thấy được một sự lưu tâm đáng yêu mà Chúa dành cho những người thu thuế và tội lỗi như trong Tin Mừng thánh Luca: Chúa đến để tìm kiếm những gì đã mất.. một người nữ ngoại tình, một người thu thuế thống hối, một tên trộm ăn năn… Không một Tin Mừng nào diễn tả được tấm lòng tha thiết của Chúa dành cho những người bơ vơ nghèo đói cho bằng dưới ngòi bút điêu luyện của Luca.
Thánh Sử Luca, mừng kính ngày 18/10
Tin mừng của thánh Luca là Tin Mừng của niềm vui vì ngay từ đầu, và bàng bạc trong Tin Mừng của ngài, có rất nhiều chỗ nói về niềm vui như loan báo tin vui cho Zacharia, truyền tin cho Maria. Những niềm vui liên tục khi Thánh Gioan chào đời, lúc Chúa giáng sinh...Những niềm vui trong chương 15 khi tìm thấy con chiên lạc, tìm được đồng tiền mất, gặp lại người con hoang và niềm vui nân hoan của các tông đồ khi trở lại Giêrusalem. Ðúng như Harnack đã nói: "Có những nét vui tươi, can trường và chiến thắng âm vang trong toàn bộ cuốn Tin Mừng của Thánh Luca từ trang đầu cho tới trang chót."
Thánh Sử Luca, mừng kính ngày 18/10
Tin Mừng của thánh Luca còn được gọi là Tin Mừng của những người phụ nữ  bởi vì không Tin Mừng nào vai trò của người phụ nữ được nhắc tới với một lòng kính trọng như Tin Mừng của thánh Luca. Những câu chuyện về những người phụ nữ đặc biệt như những chị em phụ nữ đi theo phục vụ Chúa Giêsu và tông đồ đoàn chỉ có thể tìm thấy trong Tin Mừng của thánh Luca.
Sau hết, khi trình bày, thánh Luca như cố ý cho chúng ta thấy những điều kiện cần thiết để tin theo Chúa cũng như để đuợc gia nhập Nước Trời. Những điều kiện đó là đức tin, lòng khiêm nhường, thống hối, dám chấp nhận những khó khăn, biết sống bác ái và kiên trung trong đau khổ.

Cũng như Tin Mừng, cuốn Tông Đồ Công Vụ của thánh Luca là một bằng chứng sống động về việc Chúa Thánh Thần hoạt động trong đời sống truyền giáo của các tông đồ và đời sống của Giáo Hội lúc sơ khai. Đây cũng là cuốn lịch sử đầu tiên của Giáo hội. Đọc sách Công vụ chúng ta không thể không cảm thấy một nguồn vui thanh cao và sống động đuợc bùng phát lên từ sự nhận biết Thiên Chúa của các tín hữu đầu tiên, và rồi kết quả sau đó là một cuộc sống được định hướng bằng tình bác ái chân thực, bằng tinh thần hy sinh xả kỷ, cũng như bằng bầu khí cầu nguyện, bằng sự hiệp nhất cao độ, lòng hợp lòng, với một đức tin, và một tình yêu duy nhất để hình thành nên những cộng đoàn thánh thiện giữa các tông đồ và những người tin Chúa của Giáo hội sơ khai.
Thánh Sử Luca, mừng kính ngày 18/10
Mặc dầu lịch sử không cho chúng ta những tài liệu chính xác về gia thế và đời sống của thánh Luca, nhưng chúng ta biết chắc chắn rằng: thánh Luca thuộc gia đình nề nếp và giàu sang tại Antiokia. Khi còn bé, Ngài được giáo dục chu đáo về cả đức tính, văn hóa và nghề nghiệp. Ngài theo học các khoa cổ điển của nền văn minh Hy lạp và chuyên nghề lương y. Từ buổi đầu, thánh Luca vẫn chưa biết Chúa. Cho đến một ngày kia thánh Phaolô đến Troa giảng đạo Chúa Giêsu. Luca vào nghe và sau khi suy nghĩ, cân nhắc cẩn thận và nhận thấy giáo thuyết thánh Phaolô giảng rất thâm trầm hợp lý, Ngài liền tin theo. Ngài chịu phép rửa tội và theo làm môn đệ thánh Phaolô, ngày đêm học hỏi Kinh Thánh và làm thư ký cho thánh Tông đồ. Quãng năm 49, nghĩa là khi khởi sự truyền giao lần thứ hai, thánh Phaolô cùng mang thánh Luca đi theo. Nhưng rồi hai thầy trò lại chia lìa nhau một thời gian. Có lẽ kỳ này thánh Luca trở về sinh quán làm nghề lương y. Đến sau hai thầy trò lại gặp nhau tại Philipphê. Từ đây thánh Luca cùng đi giang đạo với thánh Phaolô. Nhưng đến khi thánh Phaolô bị người Lamã bắt cầm tù, thì thánh Luca cũng từ giã đế đô, và chúng ta không biết gì về quãng cuối đời của Ngài nữa.
Thánh Sử Luca, mừng kính ngày 18/10
Đọc Tin Mừng thứ ba và Công vụ tông đồ, chúng ta thấy thánh Luca rất lỗi lạc về văn chương Hy lạp. Ngài quả là một nhà văn học kỳ tài, luôn thay đổi từ ngữ và dùng những danh từ thích hợp với đặc tính văn chương của người Hy lạp thời bấy giờ. Thánh nhân tỏ ra rất nghệ thuật trong việc bố cục câu chuyện thế nào cho rõ ràng, hấp dẫn, gợi nhiều ý tưởng và tâm tình, chẳng hạn dụ ngôn người con người phung phá và câu chuyện hai người du khách trên đường Emmau phải là hai kiệt tác văn chương, có nhiều giá trị nghệ thuật không kém gì những áng văn hay nhất của người Hy lạp thời ấy. 
Hơn thế, thánh Luca còn là một người rất sành tâm lý. Thánh nhân đã mặc cho mỗi nhân vật trong Tin Mừng cũng như trong các dụ ngôn những tâm tình, cử điệu và lời lẽ phù hợp với điạ vị riêng của họ. Phải chăng nhờ tài nghệ này, thánh Luca đã đề cao đến chữ trọn hảo địa vị Cứu thế của Chúa Giêsu: Chúa nhân lành tự trời đến với loài người lầm than tội lỗi. Chúa tự hiến mình trên thập giá để tẩy xóa mọi tội trần và thông ban ơn sủng đời sống mới cho các tâm hồn.
Với một sự hiểu biết sâu xa về sứ mệnh Cứu thế của Chúa như vậy, hẳn thánh Luca đã nhiệt thành với nhiệm vụ phổ biến Tin Mừng cứu thế không kém gì thánh Phaolô. Nhưng Ngài giảng đạo tại đâu và chết như thế nào thì theo một tài liệu tìm thấy ở Constantinople, thánh Luca đã giảng đạo tại Achaie và Beotie. Và sau cùng làm giám mục thành Thèbes. Trong bài thực hành cuốn chú giải Tin Mừng thánh Matthêô, Thánh Hiêrônimô nói rõ thánh Luca đã viết Tin Mừng thứ ba tại Achaie và Beotie, sau cùng thánh Gaudence de Brescia quả quyết thánh Luca cùng chịu tử đạo với thánh Andrê tại Patras một tỉnh nhỏ thuộc vùng Achaie.
Ngày nay thánh Luca là quan thầy của các lương y và bác sĩ. Ngài cũng là bổn mạng các nhà họa sĩ, vì theo một truyền thuyết thì thánh nhân đã họa bức ảnh chân dung Đức Mẹ đầu tiên mà nay chúng ta quen gọi là ảnh “Đức Mẹ hằng cứu giúp”.
Ngay từ đầu, Giáo hội vẫn kính lễ thánh Luca vào ngày 18.10 mỗi năm.
Kính xin thánh Luca thánh sử phù trợ cho chúng ta được lòng tin mạnh mẽ và hăng hái như người để chúng ta đem tin lành cứu độ đến cho những người còn chưa nhận biết Chúa.
----------------------------------------------------------------------
http://tgpsaigon.net/baiviet-tintuc/20141013/28019
-----------------------------------------------------------------------
Mừng Kính Thánh Sử Luca, 18-10

Thánh Sử Luca, Bổn Mạng Cha Cố Luca Bùi Thủ, nguyên Chính xứ Tân Hương, Kontum và là Đấng sáng lập Ca Đoàn Luca, Tân Hương, Kon Tum
-----
Kính chúc mừng Bổn Mạng Cha Luca Nguyễn Văn Mạnh, Chính xứ Kon Rơ Bang, GP. Kon Tum
Chúc mừng Bổn Mạng & Sinh Nhật lần thứ 12 của Ca Đoàn Luca, GX. Tân Hương Kon Tum
Ca Đoàn Luca 
Giáo xứ Tân Hương, GP. Kon Tum
kỷ niệm Bổn Mạng & Sinh Nhật lần thứ 12
18-10-2002 & 18-10-2014
---------------------------------
Nguyện xin Chúa ban cho Cha cố Luca Bùi Thủ vui hưởng phúc trường sinh thanh nhàn bên Chúa đến muôn đời.
Kính chúc mừng Cha Luca Nguyễn Văn Mạnh, OP, Chính xứ Kon Rơ Bang! Nguyện xin Chúa ban nhiều hồng ân cao quý giúp Cha luôn khang an xác hồn để phục vụ Chúa và Giáo xứ Kon Rơ Bang ngày càng thăng tiến hơn!
Xin chúc mừng Bổn Mạng & Sinh Nhật lần thứ 12 của Ca Đoàn Luca, GX. Tân Hương, Kon Tum luôn dồi dào sức khỏe và nhiệt thành phục vụ Chúa tận tình mọi nơi mọi lúc!

Kon Tum 17-10-2014
P. Mai Tự Cường, Kon Tum


17-10 - MỪNG KÍNH THÁNH INHAXIÔ THÀNH ANTIÔKIA, GM. TỬ ĐẠO

Thánh INHAXIÔ Thành ANTIÔKIA, GM. TỬ ĐẠO

Phúc Âm:                                                                              Ga 12, 24-26
"Nếu hạt lúa mì thối đi, thì sẽ sinh nhiều bông hạt".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
   Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Thật, Thầy nói thật với các con: Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình; nhưng nếu nó thối đi, thì nó sinh nhiều bông hạt. Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, và ai ghét sự sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời. Ai phụng sự Thầy, hãy theo Thầy, và Thầy ở đâu, thì kẻ phụng sự Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phụng sự Thầy, Cha Thầy sẽ tôn vinh nó".
  Ðó là lời Chúa.

Thánh Inhaxiô Thành Antiokia, Giám Mục, Tử Đạo

     Người ta nghĩ rằng: Thánh Inhaxiô thành Antiôkia chính là đứa trẻ mà Chúa Giêsu đã ôm vào lòng và đặt giữa các tông đồ để làm gương mẫu về lòng trong trắng và đức khiêm tốn Kitô giáo. Vài tác giả còn quả quyết rằng: ngài là đứa trẻ đưa 5 chiếc bánh và 2 con cá cho Chúa Giêsu làm pháp lạ nuôi 500 người ăn. Điều chắc chắn là ngài đã được đặt làm giám mục thứ nhì kế vị Thánh Phêrô tại Antiôkia khoảng năm 68, sau khi Thánh Giám mục Evôda qua đời. Suốt 40 năm cai quản giáo phận, kể cả những năm bị bách hại dưới triều Domitianô, ngài đã tỏ ra là một giám mục gương mẫu về mọi nhân đức.

     15 năm bình lặng sau cái chết của bạo vương Domitianô qua đi, cơn bách hại lại nhen nhúm ở vài tỉnh dưới thời Trajanô. Vị hoàng đế cuồng tín này cho rằng: mình đạt được nhiều chiến thắng là nhờ các thần minh. Ông coi việc bách hại các tín hữu Chúa là một nghĩa cử để tỏ lòng biết ơn các thần minh. Tháng giêng năm 107, ông tới Antiôkia. Được biết tại đây có Giám mục Inhaxiô đã không vâng lệnh thờ cúng tượng thần, lại còn ngăn cản người khác, ông truyền điệu ngài tới để xét hỏi. Sau khi đe doạ và dụ dỗ đủ cách mà vô hiệu, ông kết án vị giám mục thánh thiện này phải điệu về Roma cho thú vật xâu xé.

     Cuộc hành trình về Roma mang sắc thái một cuộc khải hoàn. Mỗi khi con tàu dừng bến nào, dân chúng đều tuốn đến chào kính vị tử đạo. Nhân dịp này, Thánh Inhaxiô có dịp tiếp xúc với nhiều giáo đoàn và đã viết 7 bức thư cho các Giáo hội. Tuy vậy, chuyến đi không dễ chịu gì. Bọn lính áp giải đã cố tình hành hạ thánh nhân để mong được các tín hữu ngưỡng mộ ngài đút lót tiền bạc. Thánh nhân viết với lòng khiêm tốn:

- Trên đất liền hay ngoài biển khơi, ngày đêm tôi phải chiến đấu với các súc vật, bị xiềng vào mười con sư tử. Tôi muốn nói là những người lính canh giữ tôi. Người ta càng cho tiền, họ càng hung dữ. Những người đối xử tàn tệ của họ là trường đào luyện tôi mọi ngày, nhưng không phải vì vậy mà tôi được nên công chính đâu.

     Ở Smyrna, Thánh Inhaxiô đã gặp Thánh Pôlycarpô. Vị giám mục thánh thiện này cũng là môn đệ của Thánh Gioan như Thánh Inhaxiô. Thánh Pôlycarpô đã hôn xiềng xích của người bạn lừng danh. Tại đây, Thánh Inhaxiô có dịp gặp đại diện của nhiều Giáo Hội tới thăm. Biết rằng ở Ahila Delphia có sự chia rẽ trong hàng giáo sĩ, ngài đã viết thư khuyên nhủ họ:

- Hãy tránh xa những phân rẽ và các giáo thuyết nguy hiểm. Hãy theo mục tử các bạn khắp nơi như đoàn chiên. Tôi vui sướng hết mực những góp phần củng cố đức tin các bạn, nhưng không phải do tôi mà do Chúa Giêsu Kitô. Được mang xiềng xích vì danh Chúa, hơn lúc nào, tôi cảm thấy mình còn quá xa sự trọn lành. Nhưng kinh nguyện của các bạn sẽ làm cho tôi được xứng đáng với Thiên Chúa và với di sản mà lòng nhân từ và đã dọn sẵn cho tôi.

     Các thư của các thánh nhân gửi riêng cho mỗi nơi, ngài ca tụng tinh thần kỷ luật của tín hữu Manhêsianô (Magnésiens): Tôi hãnh diện được gặp các bạn nơi cá nhân Đức Giám mục Damas của các bạn. Tuổi trẻ của ngài không được nên cớ để các bạn suồng sã với ngài. Các bạn cần phải tôn kính chính Thiên Chúa là Cha nơi ngài.

     Với dân Trallianô (Tralliens), ngài viết: “Hãy yêu thương nhau. Xin cầu nguyện cho tôi nữa. Tôi cần đức ái và lòng nhân hậu Chúa để được nhận vào hưởng gia nghiệp mà tôi đã sẵn sàng chiếm hữu”.



      Nhưng ngài sợ dân Rôma, vì nhiệt tâm mà cất mất triều thiên tử đạo của mình. Nhờ một du khách đi Italia, ngài khẩn khoản: “Các bạn không thể trao tặng cho tôi một bằng chứng quý mến nào khác, là để cho tôi được tế hiến mình cho Thiên Chúa. Ân huệ tôi van xin các bạn là hãy hát bài ca cám tạ ơn Chúa mà nhờ công nghiệp Chúa Giêsu Kitô, Đức Giám mục Smyrna bên Tây phương đã được, để ngài được đưa vào vinh quang. Hãy để cho tôi thành của ăn nuôi thú vật, hầu tôi được vui hưởng Thiên Chúa, Tôi là hạt lúa mì của Thiên Chúa. Tôi cần được răng thú dữ nghiền nát để trở thành bánh tinh tuyền của Chúa Kitô.

     Tốt hơn, hãy săn sóc các thú vật này để chúng thành nấm mồ của tôi. Chính lúc này tôi đang trở nên một môn đệ chân chính. Chớ gì những hình khổ độc dữ nhất đổ xuống mình tôi, miễn là tôi được Chúa Giêsu Kitô. Được cả thế gia này nào có ích lợi gì cho tôi? Tôi chỉ ước mong được kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô...

     Ngài còn viết thêm: Ước mơ của tôi là được đóng đinh vào thập giá. Trong tôi chỉ có một dòng nước hằng sống vẫn rì rầm lời kêu gọi: Hãy về với Cha.

Thánh nhân còn viết nhiều điều khác nữa, bàn về chân lý đức tin, kỷ luật Giáo Hội và những sai lầm nguy hại.


Thánh Inhaxiô vui lòng đón nhận phúc tử đạo ( 2 con sư tử xé nát ăn thịt Thánh nhân)

     Ngày 20 tháng 12 năm 107 là ngày cuối cuộc vui cũng là ngày Thánh Inhaxiô tới Roma. Sau khi đọc bức thư của nhà vua, quan tổng trấn truyền đem thánh nhân đến thẳng hí trường. Dân chúng đang tụ họp đông đảo. Ngài lặp lại câu nói đã viết trong trường hợp gửi dân Roma: “Tôi là hạt lúa mì của Thiên Chúa. Tôi cần được răng thú dữ nghiền nát để trở thánh bánh tinh tuyền của Chúa Kitô”. Hai con sư tử gầm rống và bổ tới thánh nhân mà cắn xé. Người ta kính cẩn thu nhặt những khúc xương còn lại và đưa về Antiôkia. Dưới thời Hêracliô, xương ngài lại được đưa về Roma.

 

Suy Niệm:

      Sứ mạng hàng đầu của người kitô hữu là làm ngôn sứ, là sống và làm chứng cho niềm tin vào Đức Kitô. Điều này vẫn luôn là một thách đố cho người Kitô hữu dù ở bất cứ thời đại nào. Quả vậy, người ngôn sứ dám công bố “trên mái nhà” những đòi hỏi của Tin Mừng luôn có nguy cơ bị bách hại.

      Lịch sử Giáo hội đã chứng minh cho thấy: con đường theo Chúa Kitô không phải lúc nào cũng phẳng lặng, êm ả, nhưng lắm khi cũng đầy những sóng gió, chông gai, và cả xương máu nữa.
http://www.cuocdoidanghien.com/index.php?option=com_content&view=article&id=903&lang=vi
------------------------------------------------------------------------
17-10 - GHVN MỪNG KÍNH THÁNH ISIDÔRÔ GAGELIN (KÍNH), Lm. MEP,TỬ ĐẠO (Trong danh sách 117 thánh Tử Đạo Việt Nam được tôn phong ngày 19-6-1988 tại RÔMA)
 Phanxicô Kính (Francois Isidore Gagelin), Sinh năm 1799 tại Montperreux, Besancon, Pháp, Linh mục Thừa sai Paris, địa phận Ðàng Trong, bị xử giảo ngày 17/10/1833 tại Bãi Dâu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 17/10.
------------------------------------------------------------------------------------------------------
118 Thánh Tử Đạo VN
Mừng Lễ hai Thánh Tử Đạo INHAXIÔ Thành ANTIÔKIA và Thánh Phanxicô Kính (Francois Isidore Gagelin), Tử đạo Việt Nam, Khấn xin các Ngài chuyển lời cầu cùng Chúa thương ban cho mọi giáo dân Nước Việt tràn đầy tâm tình yêu mến tôn thờ Thiên Chúa và lòng nhiệt thành noi gương các Ngài luôn biết quên mình, sẵn sàng hy sinh dấn thân phục vụ Chúa trong mọi hoàn cảnh thuận lợi cũng như không thuận lợi, để mọi người VN nhận biết Chúa là Thiên Chúa độc nhất, chân thật, nhân từ và là Cha chung của hết mọi người. A men.