Thứ Năm, 30 tháng 4, 2015

Tháng Hoa Dâng Mẹ - Marie Rose Vũ Thị Loan, Fmsr


 
Tháng năm còn có tên gọi thật đẹp là Tháng Hoa. Dù ở nơi đâu trên thế giới, thì đây cũng là thời điểm của muôn hoa đua nở. Khi nói đến hoa, đến các loại cây có hoa thì nhiều vô kể, cho tới nay người ta cũng chưa thể xác định có bao nhiêu thứ hoa trên mặt đất. Hoa nào cũng đẹp, mỗi hoa một vẻ, mỗi loại hoa đều mang nét độc đáo và có sắc thắm riêng của nó. Có nhiều sắc hoa khác nhau, nhưng trong truyền thống dâng hoa vào tháng năm của người công giáo, người ta thường dâng 5 sắc hoa và mỗi màu sắc mang một ý nghĩa riêng:
  • Hoa trắng chỉ sự trong sạch của tâm hồn.
  • Hoa tím chỉ sự tuân phục thánh ý Chúa.
  • Hoa vàng chỉ đức mến vẹn toàn.
  • Hoa xanh chỉ sự trọn lành thánh thiện.
  • Hoa đỏ chỉ sự hy sinh hãm mình.

Trong dân gian, người ta cho rằng mỗi sắc hoa biểu tượng cho một hình ảnh, một trạng thái tâm hồn :
Sắc trắng tượng trưng cho tâm hồn thanh khiết, siêu thoát
  • Sắc tím tượng trưng cho tâm hồn đa cảm, thơ mộng.
Sắc vàng tượng trưng cho tâm hồn quý phái, rạng rỡ.

Sắc xanh tượng trưng cho tâm hồn đầy sức sống, hy vọng tương lai.

Sắc đỏ tượng trưng cho tâm hồn nhiệt tình, sôi nổi, may mắn.

Ngoài ý nghĩa về màu sắc, mỗi loại hoa còn là biểu tượng cho một đức tính nào đó :
  • Hoa Hồng biểu tượng cho tình yêu.
  • Hoa Huệ tượng trưng cho sự khiết tịnh.
  • Hoa Sim tím nhắc đến lòng chung thuỷ.
  •  Hoa Lan nói đến tình bạn trong sáng.
  • Hoa Đại nhắc nhở bài học bao dung.
  • Hoa Mười Giờ nhắc nhở về sự tận tụy, hy sinh.
  •  Hoa Giấy gợi lên những tư tưởng thanh cao…
Như vậy, các loại hoa với những sắc màu khác nhau, nếu đem góp chung lại sẽ tạo nên một bầu khí vui tươi đẹp mắt và chuyển tải một ý nghĩa nào đó. Khi dâng hoa, người ta thường dùng những bài ca, được minh họa bằng những điệu múa, những cử chỉ bên ngoài để diễn tả tâm tình bên trong. Cha Trinh Cát, khi nhắc về tháng Hoa, đã viết trong cuốn "Hoa Hồng Thiêng" một tư tưởng mà người nào đọc đều nhận thấy một tâm tình cảm mến sâu xa về tình Mẹ: "Tôi đi hái hoa dâng Mẹ, và lòng tôi nở một mùa yêu đương và hiểu biết hơn về Mẹ Thiên Chúa". Tâm tình này có lẽ cũng là tâm tình chung của những ai tham gia việc tập luyện cho các đoàn hoa hay khi tham dự các buổi dâng hoa, các cuộc rước kiệu Mẹ.
Trong Giáo hội, có nhiều hình thức tôn kính Mẹ Maria, các hình thức này thay đổi theo từng địa phương, tùy từng thời điểm và theo lòng nhiệt thành, sáng kiến của mỗi người. Nhưng đặc biệt trong tháng hoa, việc tôn kính Mẹ thường tập trung vào hai hoạt động chính, đó là rước kiệu Đức Mẹ và Dâng hoa kính Mẹ. Đây là một trong những sinh hoạt đạo đức bình dân, đậm nét vui tươi, nhằm diễn tả tâm tình yêu mến, thảo hiếu đối với Mẹ Maria và qua Mẹ để tôn vinh Thiên Chúa.


Hình ảnh Mẹ Maria được cung nghinh trên kiệu hoa nhắc ta nhớ đến lời ám chỉ về Đức Mẹ của sách Giảng Viên : “Ta như Hoa Hường mọc bên suối nước” (Gv 39,17) ; “Ta như Hoa Hường mọc giữa thành Giêricô” (Gv 24,18) ; “Ta như Hoa Hường đua nở trong mùa xuân tươi đẹp” (Gv 50,8). Giáo hội cũng gọi Mẹ là Hoa Hường Nhiệm : “Đức Mẹ như Hoa Hường mầu nhiệm vậy”(Kinh cầu Đức Mẹ). Và để diễn tả cuộc đời khiết trinh vẹn tuyền của Mẹ, Giáo hội còn gọi Mẹ là “Bông Huệ Trắng”.
Khi ví Đức Mẹ là “Bông Hoa”, Giáo hội không chỉ nói đến sự tươi đẹp ở dáng vẻ bên ngoài mà nhất là Mẹ xinh đẹp trong tâm hồn vì Mẹ luôn sống trong ơn thánh Chúa và luôn làm đẹp lòng Chúa. Mẹ chính là Bông Hoa tuyệt vời được biệt kính cho Thiên Chúa và chỉ có Bông Hoa ấy mới làm cho Thiên Chúa ưa thích nhất. Khi đọc các hình bóng trong Thánh kinh, theo dõi những bức họa đã có từ thời đầu Giáo hội, chúng ta được biết Đức Mẹ là một người nữ xinh đẹp duyên dáng số một như được mô tả trong Diễm Tình Ca : “Kìa bà nào đang tiến lên như rạng đông, đẹp như mặt trăng, rực rỡ như mặt trời, uy hùng như đạo binh sắp hàng vào trận” (Dtc 6,9). Nét xinh đẹp uy nghi này còn được nhắc đến trong sách Khải Huyền : “Người Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh 12, 1)

Mặc dù không hiểu hết sự xinh đẹp của Mẹ, nhưng được khơi nguồn từ Kinh Thánh và qua lời dạy của Giáo Hội, chúng ta biết rằng Mẹ đẹp vì cuộc đời Mẹ luôn ngát hương trong sạch, thánh thiện, dạt dào tình mến Chúa và luôn được Thiên Chúa yêu thương.
Nhân dịp tháng hoa, khi chiêm ngắm Mẹ Maria như Bông Hoa tươi nở trong Thiên Chúa, chúng ta cũng kết dệt đời mình thành những đóa hoa thiêng dâng Mẹ mỗi ngày, để qua Mẹ, đời ta cũng được hiến dâng lên Thiên Chúa. Đó có thể là :
  • Bông hoa cầu nguyện, luôn sốt sắng trong các giờ phụng vụ chung riêng, làm mọi việc vì tác động mến yêu.
  • Bông hoa hòa bình, không biết đến giận dữ, cho dù có bị thiệt thòi cũng vẫn hành động theo hướng tích cực.
  • Bông hoa đơn sơ qua nếp sống giản dị, đơn sơ trong tâm hồn được bộc lộ qua những suy nghĩ trong sáng, những lời nói thật thà.
  • Bông hoa khiêm tốn trong nhận thức về bản thân, khiêm tốn trong tâm hồn cũng như trong lời nói và trong cung cách sống.
  • Bông hoa thân thiện, biết đem lại niềm vui, sự an ủi và nâng đỡ cho người chung quanh.
  • Bông hoa can đảm, ngay cả khi bị dập nát, hoa vẫn tỏa hương thơm trên tay người đã vò xé mình.
  • Bông hoa trung thành, dù gặp thất bại hay đau thương, hoa vẫn hiên ngang tươi nở, trao tặng vẻ đẹp và hương thơm, được bao nhiêu có thể với tất cả khả năng và sức lực của mình.
Và còn rất nhiều bông hoa nhân đức khác mà chúng ta có thể gặt hái được trong cuộc sống và trong hoàn cảnh cụ thể của mỗi người.
Để trở thành bông hoa đáng yêu trong vườn hoa xinh đẹp, cây hoa cần đến sự cắt tỉa, cho dù sự cắt tỉa này làm cây hoa đớn đau hay có khi dập nát. Cũng vậy, để trở nên người thành toàn, ta cần cắt tỉa những tật xấu gây thiệt hại cho người khác, bỏ đi những vấn vương trần tục, những lo lắng viển vông, những đam mê vô ích.
Đã gọi là hoa thì phải đẹp. Đã gọi là vườn hoa thì phải có sự góp mặt của những bông hoa. Trong vườn, hoa càng nhiều, càng khác biệt thì vườn hoa càng phong phú. Tuy mỗi hoa một vẻ đẹp, mỗi hoa một hương sắc khác nhau, có hoa lớn, hoa nhỏ, hoa rực rỡ, hoa đơn sơ, nhưng tất cả đều bổ túc cho nhau để vườn hoa trở thành hấp dẫn và có giá trị. Bản chất của hoa thì luôn sẵn sàng đón nhận tất cả : làn gió, sương mai, ánh nắng, mưa rơi và ngay cả bụi mù hay đêm đen. Nó không tham lam, không kiểu cách, không kêu ca, không sợ hãi, không giận hờn cũng chẳng ganh tị. Với tất cả vẻ đẹp duyên dáng, bông hoa biết mình hiện diện là để tô điểm cho đời thêm tươi đẹp, thêm niềm vui và giàu ý nghĩa. Đó cũng là ý nghĩa của đời sống chúng ta.
Nhìn hoa ta cũng có thể nghĩ đến mình. Hoa rất đẹp nhưng hoa cũng mau tàn phai như người ta thường nói : " Hoa kia sớm nở tối tàn ". Dù vậy, hoa vẫn trung thành với sứ mệnh của nó. Đời người cũng mau qua như hoa cỏ. Một cuộc đời, dù ngắn hay dài đến 100 năm thì cũng chỉ được đánh giá bằng những giá trị đích thực của đời sống. Chúng ta hãy sống những gì tốt đẹp nhất và cống hiến cho mọi người tất cả những gì ta có với tấm lòng yêu thương và kính trọng. Cuộc sống mọi người sẽ dễ chịu biết bao khi tất cả đều biết sống đẹp và sống phó thác như một bông hoa. Chúa Giêsu đã muốn điều đó khi nói : " Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học : chúng không làm lụng, không kéo sợi, thế mà, Thầy bảo cho anh em biết : Salômon dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy. Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quẳng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế thì huống hồ là anh em " (Mt 6, 28.30)

Trong tháng hoa này, ngoài việc dâng những đóa hoa thiên nhiên, chúng ta còn đặc biệt dâng lên Thiên Chúa qua Mẹ Maria những bông hoa thiêng liêng, những cánh hoa lòng là các giờ kinh nguyện sốt sắng và đầy tình mến, những bông hoa nhân đức, hoa khiêm nhường, hoa bác ái, hoa hy sinh, hoa tận tụy phục vụ, hoa chấp nhận mọi trái ý với lòng tin yêu phó thác, hoa khao khát sống thánh thiện như Mẹ.
Nguyện xin Chúa, qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria, ban cho chúng ta niềm vui nội tâm và sự chăm chỉ tích lũy cho đời mình những “cánh hoa bất tử”, không bao giờ tàn phai, lúc nào cũng tỏa hương thanh thoát. Ước gì Mẹ Maria luôn hài lòng khi thấy mỗi người chúng ta siêng năng góp nhặt được những món quà trong ngày sống để tôn vinh Chúa và tỏ lòng yêu mến Mẹ. Chúng ta có thể làm bất cứ việc gì, việc lớn, việc nhỏ, kể cả những việc ngộ nghĩnh, việc cao sang, việc hèn hạ nhưng luôn với một tình yêu.
http://mancoichihoavn.com/Blog%20Posts/thanghoadangme.html
Sưu tầm: P. Mai Tự Cường
NGHE NHẠC MP3: AVE MARIA ( NHƯ SONG LỘC TRIỀU NGUYÊN) 
THƠ: THI SĨ HÀN MẶC TỬ
NHẠC: NHẠC TRƯỞNG HẢI LINH
THÁNG HOA KÍNH ĐỨC MẸ ĐÃ ĐẾN!
Kính xin Mẹ thương ban muôn phúc lành trên đoàn con cái tuôn đến tôn kính, ca ngợi Mẹ trong Tháng Hoa này.
01-5-2015
MTC
Maria Auxiliador

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2015

7-3 - MỪNG LỄ THÁNH NỮ PERPETUA VÀ PHÊLIXITA, TỬ ĐẠO

Ngày 07-03

Thánh PERPÊTUA Và PHÊLIXIA
Tử đạo (thế kỷ III)


Perpêtua và Phêlixita, cùng với các bạn chịu chết với các Ngài năm 203 tại Carthage, là những khuôn mặt sống động đặc biệt trong số các thánh tử đạo vào các thế kỷ đầu. Chúng ta có được những tường thuật chính xác về cuộc tử đạo của các Ngài nhờ vào tài liệu đương thời, bao gồm những nhật ký của chính thánh Perpêtua, một trang sử của vị tử đạo khác và một câu chuyện do nhân chứng đầu tiên, có lẽ là Tertulianô viết lại.
Dưới cuộc bách hại của Septimô Sêvêrô. Một phụ nữ trẻ thuộc gia đình danh giá tên là Vibia Perpêtua đã bị bắt cùng với hai thanh niên là Saturnunô và Secundôiô, với hai người nô lệ là Revecatô và Phêlicitê. Tất cả đều đang học với một giáo dân tên là Saturô. Thấy các học viên của mình bị bắt, Saturô cũng tự nộp mình để khỏi phải xa lìa họ.
Cha của Perpêtua là một người thờ ngẫu tượng nài nỉ con mình trung thành với ngoại giáo. nhưng chỉ vào một cái bình, thánh nữ trả lời : - Thưa cha, người ta có thể gọi vật này bằng cái tên nào khác hơn là cái bình không ? Đối với con cũng vậy con không thể cho mình một cái tên nào khác ngoài danh hiệu là Kitô hữu.
Người cha liền lao vào con như muốn móc mắt và ông đánh đập Perpêtua tàn nhẫn. Rồi ông rút lui. Nhiều ngày sau thánh nữ không gặp lại ông. Trong những ngày đó Perpêtua cùng với các bạn còn đang dự tòng đã được rửa tội.
Khi người ta dìm vào nước, thánh nữ đã chỉ nguyện xin một lời này là: được sức mạnh để chịu đựng nên các đau khổ của cuộc tử đạo. Bây giờ họ bị dồn chung vào một phòng chật hẹp tối om. Đút lót tiền bạc, họ được rộng rãi hơn một chút, Perpêtua mẹ của một đứa bé còn đang bú đã phải đau khổ nhiều vì xa con. Đứa bé kiệt sức. Người ta trả nó lại cho mẹ và người mẹ vui sướng quên hết mọi đau đớn. Ngục tù đã trở nên cung diện đối với Ngài. Các thi kiến thánh nữ được thấy, an ủi Ngài nhiều và nâng cao niềm hy vọng của Ngài ngay khi còn ở trần gian này.
Người ta biết rằng: các tù nhân sắp bị xét xử. Người cha của Perpêtua thất vọng. Ông đến thăm con gái mình và thốt ra những lời van xin nghe muốn đứt ruột: - "Con ơi, hãy thương mái tóc bạc của cha, hãy thương cha. Hãy nhớ tới đôi tay cha đây đã dưỡng nuôi con. Hãy tưởng tượng tới mẹ con, anh em con, con của con nữa, không có con nó sống sao được. Bỏ đi con, điều dốc quyết làm cho chúng ta mất tất cả".
Tất cả điều này thật là độc dữ đối với Perpêtua. Thánh nữ nói:- Thưa cha, tại tòa án sẽ xẩy ra điều Chúa muốn, bởi vì chúng ta không thuộc về mình.
Người cha còn cho người đem đứa trẻ tới năn nỉ lần nữa :- Hãy thương đến con của con.
Trong khi đó các tù nhân tuyên bố rằng họ đều sẵn sàng hy sinh tất cả cho Thiên Chúa. Họ bị giải tới nhà tù gần hí trường, Perpêtua đã cầu nguyện ngày đêm cho một người em chết vì ung thư. Trong một thị kiến Ngài đã thấy nó trong một nơi tối tăm, bây giờ lên một nơi ngập đầy ánh sáng.
Phêlicitê hạ sinh một đứa con trai. Khi Ngài rên xiết vì đau đớn, một người lính gác ngục chế nhạo người rằng: - Nếu không chịu nổi đau đớn lúc này, làm sao cô chịu nổi các thú dữ ?
Phêlicitê trả lời: - Hôm nay tôi khổ vì tôi nhưng khi tôi chết vì đạo, sẽ có một người khác trong tôi chịu khổ cho tôi, bởi vì tôi chịu cực khổ vì Ngài.
Trong khi chờ đợi cái chết độc dữ đã được dành sẵn, các tù nhân vẫn giữ được cái tính hài hước lành mạnh và vui tươi của họ, thánh Perpêtua nói: - Còn sống chúng ta luôn vui tươi, trong cuộc sống khác, chúng ta sẽ hân hoan mãi.


Ngày vui chơi đến, họ phải diễn trò cho thiên hạ. Người cha của Perpêtua tàn héo vì sầu muộn, nhưng thánh nữ luôn có thị kiến. Khi các thánh tử đạo tiến vào hí trường, các Ngài tỏ vẻ vui tươi phấn khởi. Perpêtua thì ca hát. Trước mặt dân chúng, Ngài đã trả lời quan tòa: - Ngài xét xử chúng tôi, nhưng Thiên Chúa xét xử Ngài.
Quan tòa truyền đánh đòn các Ngài, nhưng các Ngài lại cảm thấy hạnh phúc vì được giống Chúa Kitô thày mình. Thú dữ được thả ra, những người trẻ bị cắn xé, Perpêtua và Phêlicitê bị lột áo. Các Ngài đòi lại và người ta chấp nhận cho các Ngài đặc ân này. Các Ngài bị gói vào trong một cái lưới. Một con bò cái hung hãn xông vào Perpêtua, hất tung Ngài lên trời, rớt xuống đất Ngài vẫn còn sống và Ngài cúi nhìn người nữ tì Phêlicitê của mình đang nằm sõng sượt trên mặt đất, và giúp nàng chỗi dậy. Dân chúng trong một lúc hết hung hăng đã xin trả tự do cho các vị tử đạo. Perpêtua tin rằng: mình vừa thức dậy từ một cơn mơ. Phải thấy những vết thương đã chịu, Ngài mới tin là sự thật, Ngài nói với Rusticus và em mình rằng: - Hãy vững tin, đừng kinh ngạc vì những đau khổ của chúng tôi.


Đám dân chúng dễ bị khích động và thất thường lại đòi giết những người này. Ngài hôn chuc bình an và đưa thân cho lý hình. Người phải giết Perpêtua run rẩy, lưỡi gươm của anh ta trật đường, làm bị thương bên sườn Ngài. Chính Perpêtua phải hướng dẫn tay của lý hình và giúp đỡ để hắn đẩy mũi giáo vào cổ họng mình.

(Daminhvn.net)
-----------------------------------------
Sưu tầm: P. Mai Tự Cường
7-3-2015
-----------------------------------------
Mừng Lễ kính hai Thánh Nữ Tử Đạo Perpetua và Phêlixita 7-3, Thánh Quan Thầy Bổn mạng của Perpetua Thu Hằng, Khấn xin Thánh Nhân cầu cùng Chúa ban cho cô Thu Hằng một niềm tin yêu Chúa trung kiên vững mạnh như hai vị Thánh Nữ để vui sống đời chứng nhân cho Tình yêu Chúa mọi lúc mọi nơi trong cuộc sống hàng ngày!


Mừng Lễ Bổn mạng Cô Perpetua Thu Hằng Đỗ 07-3 - MTC

Thứ Tư, 4 tháng 2, 2015

Thánh AGATA Đồng trinh tử đạo (thế kỷ III) - Lễ kính 05-02


2/5/2013 3:33:30 AMNgày 05/02
Agatha.jpg  
Truyền thuyết cho rằng : thánh nữ Agata chào đời khoảng năm 230 tại Sicilia trong một gia đình quí phái có danh giá. Cha mẹ Ngài là những bậc nhân đức đã chuyên chú đào tạo Ngài từ thuở nhỏ nên người có đức tín vững mạnh và hướng chiều về sự thánh thiện. Bởi vậy theo các tài liệu viết về cuộc tử đạo của Ngài, thánh nữ đã quyết không kết hôn với một người nào khác ngoài Chúa Giêsu Kitô. Ngài kiên quyết hiến thân cho Thiên Chúa. Không một thú vui thế trần nào, lẫn những lời tán dương sắc đẹp của Ngài, Chúa có thể làm cho Ngài quên lãng được lời đoan hứa. 

Quintianô, quan cai trị Silicia hồi đó là một con người biển lận và dâm dật. Ông ta đã hy vọng có thể dùng sắc lệnh cấm đạo của nhà vua Đêciô để thỏa mãn tính biển lận và dâm dật của mình, sau khi biết đến sắc đẹp và sự giàu sang của Agata. Ông truyền bắt người trinh nữ đến tòa xử tại Catana. Khi đưa thánh nữ tới, ông đã truyền giao Ngài cho một mụ chứa độc ác tên là Apjrodisia để mụ ta quyến rũ thánh nữ bỏ đời sống trinh khiết. Sau nhiều cố gắng mà vô hiệu, mụ chủ nhà chứa đành phải giao thánh nữ lại cho Quintiano. 

Giận dữ, Quintiano bắt giải Thánh nữ tới trước mặt ông. Ông nói : - Người như cô mà theo đuổi cuộc sống Kitô giáo. Cuộc sống nô lê thấp hèn, cô không xấu hổ sao ? 

Thánh nữ trả lời : - Tự do và danh giá thật là biết hết lòng phụng sự Chúa Giêsu Kitô. 

Ông liền truyền đánh đòn thánh nữ rồi cho giam Ngài vào ngục thất. Hôm sau ông lại tiếp tục thẩm vấn. Lần này, trước sự cương quyết của thánh nữ, Quintiano không dằn nổi cơn giận. Ông đã truyền tra tấn thánh nữ một cách dã man đến độ xẻo bỏ cả một bên vú thánh nữ. Sau đó Agata bị bắt giam trở lại ngục thất và bị bỏ đói. Nhưng đêm đó thánh Phêrô đã hiện ra và chữa lành vết thương cho Agata. Một luồng sáng đã làm cho lính canh hoảng sợ bỏ chạy. Các bạn tù được dịp thoát thân. Họ khuyên thánh nữ trốn thoát, nhưng thánh nữ vẫn ở lại chờ lãnh triều thiên tử đạo. 

Năm hôm sau, Quintiano ngạc nhiên khi thấy Agata lành bệnh. Ông truyền đốt một lò lửa. Agata bị ném vào than hồng. Trong khi đó một trận động đất dữ dội làm rung chuyển thành phố Catana. Dân chúng nghĩ rằng, chính vì cuộc hành hung Agata đã gây nên tai họa khủng khiếp này. Họ bày tỏ lòng bất mãn đối với Quintiano. Hoảng sợ ông truyền đem Agata trở lại ngục thất. Song những hành hạ thánh nữ phải chịu đã quá lớn đến nỗi chẳng bao lâu sau đó, Ngài đã tắt thở. 

Cuộc tử đạo và lòng tôn sung rất sớm đối với thánh nữ là những sự kiện lịch sử chắc chắn. Giáo hội vui mừng vì chí cương quyết bảo vệ đức trong sạch của thánh nữ. Cái chết và sự chiến thắng của thánh nữ Agata chứng tỏ Thiên Chúa đã chọn những yếu đuối để làm cho bọn cường quyền gian manh phải hổ ngươi. 

Thánh nữ Agata là vị thánh bảo trợ của thành Catana, của các vú nuôi. Thỉnh thoảng người ta cũng kêu cầu Ngài trong lúc bị đau ngực và bị phỏng lửa. 


Agatha2.jpg
Thánh Phêrô hiện ra an ủi & chữa lành vết thương cho Thánh nữ Agatha đang bị giam trong tù ngục

http://conggiao.info/news/2301/13612/thanh-agata-dong-trinh-tu-dao-the-ky-iii.aspx
----------------------------------------------------------
Lời Nguyện:

Lạy Chúa, Chúa đã ban cho Thánh Nữ Agatha một đức tin kiên vững sáng ngời, một niềm yêu mến Chúa thiết tha nồng nàn để giúp thánh nhân luôn trung thành và can đảm vượt qua bao gian nan thử thách vì chịu cảnh tù đày với những cực hình tra tấn dã man, để được trọn nghĩa phu thê với Chúa Kitô, cùng với Chúa bước đi trọn con đường Thương Khó đời mình.
Nguyện xin Chúa giúp chúng con biết luôn noi gương Thánh nữ Agatha để giữ vững niềm tin yêu vào Chúa mỗi khi gặp phải gian nan thử thách và biết dũng cảm làm chứng nhân cho Tình yêu Chúa giữa mọi người anh chị em chúng con! A men.
Mừng Lễ Thánh nữ Agatha, đồng trinh, Tử đạo, kính chúc Quý vị & các bạn nhận Thánh nữ Agatha làm Thánh Bổn Mạng được luôn vui sống hạnh phúc trong niềm tin yêu vào Thiên Chúa là nguồn Tình Yêu, là Chân Lý và là Sự Sống vĩnh cửu của nhân loại.
05-02-2015
MTC

Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

Cuộc đời và Tiếng Gọi - Lễ Thánh Phanxicô Xaviê 3/12

3-12 - Lễ kính Thánh Phanxicô Xaviê, Bổn mạng các xứ truyền giáo, Bổn mạng các giáo lý viên, Bổn mạng Gia đình Phanxicô Xaviê GP. Kon Tum

In




Khi được hỏi về việc chọn một lời Thánh Kinh làm châm ngôn cho đời giám mục của mình, Đức tân Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Khảm đã trả lời: “Tôi chọn lời Thánh Kinh làm châm ngôn nhắc nhớ chính mình là: “Hãy theo Thầy!”.
Hãy theo Thầy!” là lời nhắc nhớ rằng dù làm linh mục hay làm giám mục, vẫn chỉ là một tiếng gọi mà thôi, có chăng là tiếng gọi ấy thôi thúc hơn và mạnh mẽ hơn.
Hãy theo Thầy!” là lời nhắc nhớ rằng điều quan trọng trong đời dâng hiến không phải là đi đâu và làm gì, mà làđi với ai. Đi theo Thầy Giêsu thì dù làm gì và ở đâu cũng là đi trên đường sự thật và là đường dẫn đến sự sống.
Hãy theo Thầy!” là lời nhắc nhớ rằng muốn làm người lãnh đạo thì trước hết phải làm môn đệ, và càng sống tư cách môn đệ tốt bao nhiêu thì càng có hi vọng lãnh đạo tốt bấy nhiêu… Theo Thầy không chỉ là theo bằng trí, mà là theo bằng tâm; cho nên theo Thầy là để tâm mình gắn bó với tâm của Thầy, để mang trong lòng mình những tâm tư của Thầy (x. Pl 2,5). (tinvui.org).
Đọc Phúc Âm, ta nghe âm vang lời mời gọi: “Hãy theo Thầy!”. Tiếng gọi của Chúa Giêsu luôn để lại những âm vang làm chuyển biến cuộc đời. Những ngư phủ đã trở thành Tông đồ, những kẻ chuyên nghề đánh bắt cá đã trở nên người chuyên nghiệp bủa lưới các tâm hồn.
Ngày 3.12, Giáo Hội mừng lễ Thánh Phanxicô Xaviê, một nhà truyền giáo vĩ đại, người tiên phong cho cuộc truyền giáo thời đại mới. Đọc lại tiểu sử để thấy cuộc đời ngài được dệt bằng những tiếng gọi “Hãy Theo Thầy!”.

 Thánh Phanxicô Xaviê, 3-12

1. Cuộc đời
Thánh nhân sinh năm 1506 tại lâu đài Xaviê, trong một gia đình quyền quý của vương quốc Navarre nhỏ bé miền bắc nước Tây Ban Nha ngày nay. Khi ngài 5 tuổi, nước Tây Ban Nha thôn tính và sát nhập Navarre, khiến gia đình ngài lâm cảnh nước mất nhà tan. Muốn tiến thân bằng con đường trí thức, năm 17 tuổi, ngài đến Paris học (1525-1536).
Tại Paris, ngài sống trong cùng một căn phòng với chân phước Phêrô Favre và sau đó, với thánh Ignaxiô. Lần lượt Phêrô Favre rồi Phanxicô Xaviê được thánh Ignatiô thu phục. Năm 28 tuổi, ngài cùng với nhóm bạn của thánh Ignatiô, khấn sống khó nghèo, khiết tịnh và làm việc tông đồ. Năm 31 tuổi, ngài chịu chức linh mục tại Venezia, miền đông bắc nước Ý năm 1537. Năm 35 tuổi, ngài xuống tàu đi truyền giáo ở vùng Đông Á theo lệnh Đức Thánh Cha Phaolô III.
Tháng 04.1541, ngài xuống tàu tại Lisbon và mãi 14 tháng sau, mới đến được Goa bên Ấn độ.
Trong suốt 10 năm truyền giáo (1542-1552) ngài đã đi cả trăm ngàn cây số.
Trong 7 năm đầu, ngài truyền giáo ở mũi Cormorin, sau đó ở Ceylan, Malaisia và từ đó, đến Indonésia.
Là vị giám tỉnh đầu tiên của tỉnh dòng đầu tiên ngoài Châu Âu, ngài yêu mến và gắn bó keo sơn với Chúa Giêsu, tha thiết với Dòng và anh em trong Dòng, kính trọng và tuân phục thánh Ignatiô, nhiệt thành lạ lùng với việc tông đồ. Ngài đã rửa tội cho hàng trăm ngàn tân tòng và gầy dựng nhiều cộng đoàn tín hữu khắp nơi. Thành quả tông đồ của ngài đã tạo nên một đỉnh cao trong lịch sử truyền giáo của Hội thánh.
Trong vòng 2 năm (1549-1551), ngài đã thành lập một cộng đoàn tín hữu ở Nhật Bản. Trước khi ra đi, ngài trao lại cho cho một linh mục Bồ Đào Nha; 20 năm sau, cộng đoàn này đã lên đến 30 ngàn người.
Cuối cùng, vì muốn vào Trung Quốc truyền đạo, ngài đã đến đảo Thượng Xuyên, ngay cửa khẩu Quảng Châu, để chờ thuyền lén lút đưa ngài vào Trung Quốc. Tiếc rằng tại đây, ngài ngã bệnh và qua đời trong một chòi tranh, chỉ có anh thanh niên trẻ thông dịch viên bên cạnh. Vài tuần lễ sau, người ta từ Goa đến tìm xác ngài, đem về Goa để chôn cất.
Thánh Phanxicô Xaviê qua đời ngày 3.12.1552, được Đức Thánh Cha  Grêgôriô XV phong thánh cùng với thánh Ignatiô vào năm 1622 và được đặt làm bổn mạng các xứ truyền giáo. (x.Phụng vụ chư thánh tập 2, Lm Augustin Nguyễn Văn Trinh)

Thánh Phanxicô Xaviê rao giảng Tin Mừng cho các dân tộc Á Châu
.
2. Tiếng gọi.
Đức Giám Mục Giuse Vũ Duy Thống đã chiêm nghiệm cuộc đời thánh nhân qua 3 tiếng gọi: Lời Chúa, bạn bè và nhu cầu truyền giáo. (x. Làm nụ hoa trắng, tr 135).
a. Tiếng gọi từ Lời Chúa.
Đức Giêsu hỏi: "Có lợi ích gì nếu được cả thế gian mà mất sự sống?" (Mt 16,26a). Câu hỏi trên đã trở thành lời tâm niệm của một giáo sư triết trẻ tuổi, với một tương lai đầy hứa hẹn trong giới kinh viện mà sự thành công, uy tín và vinh dự đang chờ đón.
Sinh ra trong gia đình quyền quý, nhưng Phanxicô Xaviê luôn nuôi trong mình những ước vọng bay cao, ngài tìm thăng tiến qua nẻo đường học hành.
Phanxicô Xaviê lên Paris theo đuổi khoa bảng, dùi mài kinh sử để cuối cùng trở thành giáo sư môn Triết học. Nhưng trên đỉnh cao danh vọng ấy, một lần tiếp cận Tin Mừng, gặp được câu: “Lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn liệu ích gì?” và dù không quen cân đo đong đếm kinh tế, ngài cũng đặt tất cả lên cán cân giá trị: lời lãi trần thế mà đời sống linh hồn trống rỗng, không có gì, thì là lỗ vốn, đạt được ước vọng trong cuộc sống này mà đời sau lại mất hết, thì là bể bụi cuộc đời trắng tay sự nghiệp. Vì thế mà thánh Phanxicô Xaviê đã suy nghĩ lựa chọn định hướng đời mình sao cho có lợi cho đời sống Thiên Chúa. Phanxicô Xaviê không muốn dừng lại hưởng thụ cuộc sống đầy đủ muốn gì được nấy, nhưng luôn được kích thích bởi ước vọng vươn lên; không muốn một cuộc đời chật hẹp gò bó dù luôn có kẻ hầu người hạ, mà lại thích vất vả khai phá lên đường; không muốn ngày ngày làm quen với vũ khí chiến đấu phòng thủ hoặc tấn công chỉ vì lãnh địa đồi núi hoang sơ, nhưng lại ham thích vũ khí tinh thần là sách vở kiến thức không gây bực bội tinh thần và cũng chẳng hôi tanh mùi máu.
Lời Chúa ở đây quả là lựa chọn, đã trở thành sức mạnh giúp thánh nhân định hướng đời sống.

Thánh Phanxicô Xaviê, 3-12

b. Tiếng gọi đến từ môi trường bè bạn.
Lời Chúa gọi khi Phanxicô Xaviê mới 24 tuổi, đang sinh sống và giảng dạy ở kinh thành Paris tráng lệ. Ngài không thay đổi ngay lập tức khi nghe những lời ấy, nhưng tất cả là nhờ ở người bạn tốt: Cha Ignatiô ở Loyola đã liên lỉ thuyết phục và sau cùng, đã chiếm được người thanh niên ấy cho Ðức Kitô. Sau đó, Phanxicô tập luyện đời sống tâm linh dưới sự hướng dẫn của Cha Ignatiô, và năm 1534, ngài gia nhập cộng đoàn nhỏ bé của Cha Ignatiô (là Dòng Tên thời tiên khởi). Tại Montmartre, các ngài khấn sống khó nghèo, khiết tịnh và hoạt động tông đồ dưới sự hướng dẫn của Đức Giáo Hoàng.
Bạn bè có một ảnh hưởng không nhỏ đến chọn lựa của Phanxicô Xaviê. Đó là tiếng gọi thứ hai.
Ở Paris, sống đời sinh viên trau dồi trí thức, Phanxicô Xaviê đã gặp gỡ Ignaxiô trong tình thân bạn bè. Sự thân thiết này đã giúp ngài cởi mở cõi lòng, tâm sự chia sẻ cuộc sống tinh thần. Nhận biết Phanxicô là con người đầy cao vọng, nhất là những ước vọng lành thánh, Inhaxiô một hôm nói với Phanxicô rằng: “Con người nhiều cao vọng như anh mà chịu dừng lại trong vinh quang trần thế thì quá uổng. Thiết nghĩ chỉ có vinh quang Thiên Chúa mới xứng với tầm cao ước vọng của anh”.
Câu nói của Ignatiô tác dụng như một liều thuốc mạnh, có sức công phá, không gì có thể cầm lại được. “Chỉ có vinh quang Thiên Chúa mới xứng với khát vọng khôn cùng”, Phanxicô Xaviê đã coi đây như châm ngôn để ngài dấn thân phục vụ Giáo Hội trong Giáo Hội và theo đường lối của Giáo Hội. Ngài từ bỏ tất cả công danh sự ngthiệp, nhận chức Linh mục, rồi sau đó, cùng với Ignaxiô, thành lập Dòng Tên với khẩu hiệu “cho vinh danh Chúa hơn”.
Nhắc lại vài đoạn trong bút tích Thánh Phanxicô Xaviê cũng đủ thấy tình anh em bạn bè luôn nâng đỡ ngài trên hành trình truyền giáo.
- “Tất cả anh em trong Dòng hiện diện liên lỉ trong tâm trí tôi” (Bt 48,1: bút tích Thánh Phanxicô Xaviê, tài liệu 48 số 1);
- “Ở Ấn Độ, để giải trí, tôi rất thường nhớ đến anh em trong Dòng, và nhớ đến thời gian, vì Chúa quá thương, tôi đựoc biết anh em và sống với anh em. Nhờ lời anh em cầu nguyện, và vì anh em luôn nhớ đến tôi, Chúa ban cho tôi ơn rất lớn là dù xa cách anh em về thể xác, nhưng nhờ anh em nâng đỡ và giúp đỡ, Chúa cho tôi cảm thấy muôn vàn tội lỗi của mình, và cho tôi sức mạnh để đến giữa dân ngoại” (Bt 20,14);
- “Để đừng bao giờ quên anh em trong Dòng, và lúc nào cũng nhớ đặc biệt đến anh em, tôi đã cất tên của anh em trong các thư từ chính tay anh em viết cho tôi, tôi có thể luôn luôn mang trên mình, cùng với lời khấn của tôi. Điều này đem lại cho tôi nhiều an ủi…Tôi cảm thấy sung sướng khi mang tên của anh em trên mình” (Bt 55,10).
- “Gặp anh em thì tâm hồn tôi đựơc an ủi hơn nhiều. Vậy mà tôi cứ phải viết thư cho anh em, lại không chắc thư đến, vì từ Ấn Độ đến Roma xa quá…Tôi nghĩ mình không lầm khi nói xa cách phần xác không làm cho chúng ta, vốn yêu mến nhau trong Chúa bớt yêu mến và nghĩ đến nhau” (Bt 48,1).
- “Đặc biệt đối với Cha Ignatiô, Phanxicô đã xúc động thổ lộ tâm tư. Chúa đã ban ân huệ lớn lao khi cho tôi được biết Cha Ignatiô. Bao lâu còn sống, không bao giờ tôi trả được món nợ đối với ngài” (Bt,16).
- “Trong số nhiều lời thánh thiện và an ủi của ngài, tôi đọc được những lời thế này: “hoàn toàn thuộc về nhau. Không bao giờ quên được nhau”. Tôi đã rơi lệ khi đọc những chữ ấy, và cũng rơi lệ khi kể lại, vì nhớ lại thời gian đã qua, nhớ đến ngài đã và vẫn luôn luôn rất thương tôi, và nhờ những lời khẩn nguyện thánh thiện của ngài, Thiên Chúa đã cho tôi thoát đựoc bao gian nan, bao nguy hiểm” (Bt 97,1).
- “Đó là một con người hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, đời sống không có gì chê trách được” (Bt 1,7).
c. Tiếng gọi đến từ nhu cầu truyền giáo.
Ban đầu, nhận công tác đi tìm Vinh Danh Chúa qua việc phục vụ các bệnh nhân, nhưng chừng như chưa đủ, Phanxicô Xaviê vẫn khát vọng xa hơn, là hiến thân loan báo Tin Mừng tận miền sâu miền xa của địa cầu. Tiếng gọi thứ ba đến từ nhu cầu truyền giáo.
Từ Venice, là nơi ngài thụ phong linh mục năm 1537, Cha Phanxicô Xaviê đến Lisbon và từ đó, ngài dong buồm đến Ấn Ðộ, cập bến làng Goa ở bờ biển phía tây nước Ấn. Trong vòng 10 năm tiếp đó, ngài đã tích cực hoạt động để đem đức tin đến cho rất nhiều dân tộc, trong đó có người Ấn Ðộ, Mã Lai và Nhật Bản.
Cha Phanxicô đến các quần đảo ở Mã Lai, và Nhật Bản. Ngài học tiếng Nhật và rao giảng cho các người dân chất phác, dạy giáo lý và rửa tội cho họ, cũng như thành lập các trụ sở truyền giáo cho những người muốn giúp đỡ công cuộc của ngài. Từ Nhật Bản, ngài mơ ước đến Trung Hoa, nhưng dự tính này không bao giờ thực hiện được. Ngài đã từ trần trước khi đặt chân đến phần đất này.
Tới Goa ngày 6.5.1542, Phanxicô rong ruổi khắp nơi, nhiệt tình rao giảng cho người ta biết con người Nagiaret nghèo nàn kia chính là Thiên Chúa ở giữa loài người. Trong 7 năm (1542-1549), Ngài là nhà truyền giáo rửa tội đựơc nhiều nhất, tới 100.000 người, “có những buổi chiều nhức mỏi cả cánh tay” như thánh nhân viết.
Từ Malaca, Ngài đến Nhật, xứ sở mặt trời. Ngài muốn gặp gỡ tìm hiểu trao đổi để Lời Chúa sáng ngời qua đối thoại. Ngài dự định đến tận kinh đô Nhật, vào các Đại học, gặp gỡ các nhà Sư để trao đổi. Phanxicô hoạt động nhiều nhất tại Kagoshima, Hirado, Bungo trên đảo Kyushu, lên Yamaguchi, từ đó đi hai tháng lên kinh đô Myako (tức Kyoto). Sau hai năm ở Nhật, Phanxicô trở về Goa, trao công việc truyền giáo lại cho cha Torres và tu huynh Fernandez.
Ngày 14.4.1552 nhà truyền giáo lên tàu. Tháng 8 năm đó ngài tới đảo Thượng Xuyên, cửa ngõ Trung Hoa. Ba tháng sau Phanxicô bị sốt nặng, lòng vẫn ngong ngóng đựơc nhà cầm quyền Quảng Đông cho phép vào đất liền. Thật bất ngờ, ngài qua đời vào 2-3 giờ sáng ngày 3.12.1552, mới 46 tuổi đời. Nói theo “thói thế gian”, đó là vỡ mộng, mọi việc còn dang dỡ…Nhưng đối với Thiên Chúa thì Phanxicô đã làm trọn ý Người và mọi sự đã hoàn thành, dù chưa đựơc phép bước vào nước Đại Minh thời đó với dân số dưới 200 triệu người.
Bất cứ chỗ nào ngài đến, ngài đều sống với người nghèo, chia sẻ thức ăn và các phương tiện thô sơ với họ. Ngài dành rất nhiều thời giờ để chăm sóc người đau yếu, nghèo khổ, nhất là người cùi. Rất nhiều khi ngài không có thời giờ để ngủ hoặc ngay cả để đọc kinh nhật tụng, nhưng qua các thư từ ngài để lại, chúng ta được biết, ngài luôn luôn tràn ngập niềm vui.
Hành trình không mệt mỏi, Phanxicô Xaviê rong ruổi những nẻo đường Á Châu, một miền xa lạ và xôi xa. Nhưng mặc kệ. Sợ gì! Đối với thánh nhân: “Tôi không sợ ai ngoại trừ Thiên Chúa, chỉ sợ Người phạt vì chểnh mảng trong việc phục vụ Người, vì vụng về và vô dụng trong việc truyền bá danh Chúa Giêsu giữa những kẻ chưa biết Người” (Bt 78,2).
Ở đâu có vinh quang Thiên Chúa, Phanxicô Xaviê sẳn sàng lên đường. Mỗi một tâm hồn chinh phục được là một niềm vui cho vinh quang Thiên Chúa, mỗi một hao mòn trong thân xác là “một vốn” bỏ ra để có “bốn lời” cho cuộc sống mai hậu. Mỗi một thời khắc sống cho Tin Mừng, cũng chính là một cách đong đầy cho khát vọng cống hiến tìm Vinh Danh Chúa.
Chính vì thế mà Phanxicô Xaviê đã không mỏi mệt ra đi, dấn bước lên đường: từ Nhật đến Ấn Độ, từ Goa đến biên giới Trung Quốc. Mỗi chặng đường đi qua, lại là một lời “còn nữa” vang lên không ngừng. Tiếng gọi từ nhu cầu truyền giáo đã hớp lấy tâm hồn Phanxicô Xaviê. Thánh nhân đã sống do và cho tiếng gọi này đến hơi thở cuối cùng trên con đường sang Trung Quốc. Đúng là một con người đầy cao vọng, nhưng là một cao vọng đích thực chỉ mình Thiên Chúa mới có thể đong đầy, mới làm no thỏa.

Thánh Phanxicô Xaviê, 3-12

3. Biết tận dụng Ơn Chúa ban
Nhìn cuộc đời thánh Phanxicô Xaviê trong ba tiếng gọi: Lời Chúa, bè bạn và nhu cầu truyền giáo, cũng là một cách học tập đời sống của ngài để họa lại trong đời sống của mình.
Đời mỗi tín hữu cũng đong đầy những tiếng gọi như thế.
Xin cho những tiếng gọi của Lời Chúa được ta lắng nghe chân thành và thực thi trung thành, bởi đó là ánh sáng soi lối ta đi.
Xin cho những tiếng gọi từ những người xung quanh không bị ta quên lãng, bởi tưởng như tầm thường, nhưng đó lại là tiếng gọi nhiều khi rất quý hiếm cho vững bước đi lên.
Và xin cho nhu cầu truyền giáo của Giáo Hội luôn là tiếng gọi ta phải quan tâm để ý, bởi đó là sự sống và là sự sống còn của Giáo Hội.
Tất cả mọi người chúng ta đều được mời gọi “Hãy theo Thầy” để "ra đi và rao giảng cho muôn dân" (Mt 28,19).
Chúng ta không nhất thiết phải đi đến những nơi xa xôi để rao giảng, mà hãy rao giảng ngay trong gia đình, cho con cái, vợ chồng, và những người cùng làm việc với chúng ta.
Rao giảng không chỉ bằng lời nói, nhưng còn qua đời sống hàng ngày. Chính nhờ sự hy sinh, từ bỏ tất cả những gì của riêng mình, mà Thánh Phanxicô mới có tự do để đem Tin Mừng đến cho người khác. Hy sinh là quên đi cái tôi của mình vì lợi ích cao cả hơn, lợi ích của sự cầu nguyện, lợi ích khi giúp đỡ người có nhu cầu, lợi ích khi lắng nghe người khác.
Món quà lớn nhất của cuộc đời chúng ta là Ơn Chúa.Thánh Phanxicô đã đón nhận hồng ân ấy, rồi làm trổ sinh hoa trái trong suốt năm tháng truyền giáo. Lời khuyên và cũng là lẽ sống của ngài cho chúng ta: “Không ai là người yếu đuối, nếu biết tận dụng Ơn Chúa ban cho mình” (Bt 90,8.9).
Ơn Chúa có thể đến bất cứ từ nơi đâu, trong mọi cảnh huống cuộc đời, lúc vui mừng hay đau khổ, lúc thành công hay khi thất bại. Ðiều quan trọng là chúng ta biết nhận ra đó là ân ban của Chúa. Người có niềm tin nhìn tất cả chỗ nào cũng là ân sủng, và mỗi một ân ban là một cuộc "Chúa đến viếng thăm", là tiếng gọi trong hành trình cuộc đời.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An