Hiển thị các bài đăng có nhãn Duc Tin CG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Duc Tin CG. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 18 tháng 10, 2012

Đức tin và sự cần thiết của Đức tin

Viết bởi Fx. Cẩm Trường   
Thứ năm, 18 Tháng 10 2012 00:00
T
Trong các mối quan hệ đời thường, khi ta đối diện với một ai đó, ta không thể biết họ là ai, làm nghề gì, từ đâu đến… nếu ta không tin người đó, và hơn nữa, ta không có cơ hội đón nhận lòng tốt của người đó nếu ta không tin tưởng họ.
Khi ta không sẵn sàng tin thì mọi sự đều đáng nghi ngờ, nghi ngờ cả đối với những thân nhân và ân nhân của ta, và thậm chí nghi ngờ cả chính ta.
Lòng tin đảm bảo cho ta rằng, giữa những gì người khác nói, người khác làm, về cái nhìn nội tâm cũng như những xác tín bên trong của người đó có sự phù hợp với nhau. Chỉ nhờ tin mà ta mới hiểu biết sâu xa hơn về tha nhân và về cả chính mình.
Bởi nếu chỉ nhờ vào phương pháp thực nghiệm, thì trong nhiều lĩnh vực quan trọng của thực tại vượt quá sự hiểu biết của ta, ta sẽ không bao giờ chấp nhận được.

Với Đức tin Kitô giáo, tin là sự con người tùng phục Thiên Chúa với lòng tin tưởng tuyệt đối vào tình yêu của Người, là sự gặp gỡ đích thân mỗi người với Chúa, đồng ý với các chân lý được mạc khải trong Thánh Kinh và sống theo Giáo lý được Giáo Hội sống và tuyên tín.

Đức tin Kitô giáo sẽ trả lời cho những vấn nạn về Ý Nghĩa của cuộc nhân sinh. Và chỉ nhờ tin vào Thiên Chúa là Tình Yêu mà con người mới nhận ra được sự hữu lý của ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban cho chính mỗi người và cho cả vũ trụ này.

1. Đức Tin Là Sự Gặp Gỡ

Khi gia nhập Kitô giáo, thì sự gia nhập đó không như khi chúng ta gia nhập một đoàn thể hay một tổ chức xã hội nào đó với việc chấp nhận tuân theo một số qui tắc và luật lệ, hoặc miễn cưỡng sống theo một lối sống đã được tổ chức sẵn.
Nhưng trước hết và trên hết, Kitô giáo là một niềm tin – một Đức tin! Đức tin đó chính là sự gặp gỡ cá vị giữa Thiên Chúa tình yêu với chính mỗi người, qua đó mỗi người sẽ khám phá ra tình yêu vô tận của Thiên Chúa trong chính cuộc sống của mình, của mọi người xung quanh và của cả vũ trụ này.

Khi đã đón nhận ơn Đức tin, người tin sẽ nhận ra được tình yêu Thiên Chúa đã, đang và sẽ vẫn luôn dành cho mình. Thiên Chúa vốn đã hiện diện trong cuộc đời mỗi người, nhưng khi tin thật nhờ biết đón nhận ơn Đức tin, người tin mới nhận ra Người.

Khi tin vào Thiên Chúa, Đức tin đó không đảm bảo sẽ mang đến cho người tin cũng như cho cộng đoàn tin một cuộc sống dễ dãi, những lợi lộc trước mắt, những may mắn tầm thường hay một sự bình an tạm thời.
Nhưng tin vào Thiên Chúa là sự người tin nhận ra và bước theo con đường tình yêu đưa tới thiện hảo, và chắc chắn người đó sẽ gặp được hạnh phúc và đạt tới Ý Nghĩa Đích Thực của cuộc đời mình.

Đức tin Kitô giáo không như là việc chấp nhận một hệ thống triết thuyết hay theo đuổi một học thuyết chính trị – xã hội, nhưng là một sự gặp gỡ và vươn đến sự gắn bó vĩnh viễn với Thiên Chúa ngôi vị. Chúng ta chỉ tin thật khi chúng ta sẵn sàng mở lòng ra với Thiên Chúa để từ đó chúng ta được đối diện với Người, gặp gỡ Người trong chính tâm hồn chúng ta, giãi bày lòng chúng ta với Người và nghe Người nói với chúng ta trong tận sâu lòng mình.
Khi đón nhận ơn Đức tin, chúng ta sẽ thấy Chúa hiện diện nơi người khác và trong chính cuộc đời này. Khi thực hành Đức tin, mọi hành vi của chúng ta sẽ thay đổi theo hướng tốt hơn trên suốt hành trình cuộc đời.
Và khi được thừa kế gia sản Đức tin, cuộc sống hiện tại của chúng ta sẽ có ý nghĩa hơn và chúng ta sẽ đủ can đảm để hy vọng vào tương lai của mình cũng như của cả thế giới, mặc dầu có thể có những bất trắc không thể lường trước được.

Đức tin Kitô giáo đồng nghĩa với việc tin nhận Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa và là Đấng Cứu chuộc, là sự tự nguyện vâng phục, khiêm tốn trao dâng chính bản thân cho Người và sống theo giới răn yêu thương của Người.
Tin là cuộc gặp gỡ cá nhân một cách tự do với Thiên Chúa ngay chính trong tâm hồn của mỗi con người. Bằng cách này hay cách khác, Thiên Chúa làm cho mọi người cảm nhận sự có mặt của Người qua việc tự mạc khải Người trong nơi sâu thẳm của linh hồn mỗi người. Điều căn bản là con người có thiện chí và khiêm nhường đủ để nhận ra Chúa ngay chính trong tâm hồn mình hay không?

Thiên Chúa đã tỏ cho con người biết về Người và đã “trò chuyện” với con người qua các mạc khải, đặc biệt qua mạc khải Thánh Kinh và đỉnh điểm là chính nơi Đức Giêsu Kitô.
Trong thực tế, có thể có những người đã sống các sứ điệp của Đức Kitô theo khả năng của lương tâm, vì thế một cách nào đó họ đã có mầm đức tin rồi. Và như vậy, mỗi người khi đến với Đức tin chính là sự họ cố gắng phát triển Đức tin đã có một cách tiềm tàng nơi chính họ thành một Đức tin Kitô giáo đầy đủ, mang hình thức công khai, và được tuyên xưng trọn vẹn trong Giáo Hội.

2. Đức Tin Là Sự Tín Thác

Đức tin Kitô giáo là sự con người đáp lại lời mời gọi kết hợp chặt chẽ và vĩnh viễn với Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô, chấp nhận giáo lý của Ngài bằng sự tự do và yêu mến. Đức tin đích thực luôn bao hàm một sự dấn thân trọn vẹn, một thái độ sống mở ra để đón nhận ân nghĩa của Thiên Chúa và liên kết với người khác trong cộng đoàn yêu thương của Giáo Hội cũng như trong các mối quan hệ xã hội khác nhau.

Như thế, Đức tin Kitô giáo không những tin có Thiên Chúa, tin vào giáo huấn và tình thương của Người, mà còn tin vào tha nhân cũng như vào chính cuộc nhân sinh này. Đức tin Kitô giáo còn là “cái gật đầu chấp nhận tiếng gọi xa hơn, cao hơn chính bản thân, để can đảm bước đi xa hơn lãnh vực khả tri, khả giác và khả nghiệm.”[1]

Ta có thể đặt vấn đề để biết tại sao mình tin, dù rằng Đức tin không thuộc lĩnh vực tri thức khoa học để có thể chứng minh bằng thực nghiệm. Tuy nhiên, Đức tin đích thực không đồng nghĩa với sự mù quáng hoặc phi lý, nhưng ngược lại, Đức tin chính là sự “hiểu biết” bằng cả hữu thể, bằng sự chấp nhận hoàn toàn tự do của lý trí và bằng cảm nghiệm sâu xa của con tim.
Đối với sự hiểu biết về Đức tin, triết gia Gabriel Marcel đã có một nhận định rất thực tế và sâu sắc: “không bao giờ có ai tin theo Đạo chỉ vì lý luận hay chứng cứ, cho dù chúng hợp lý đến đâu  chăng nữa!”

Khía cạnh đầu tiên của hành trình Đức tin hàm chứa cả một cuộc phiêu lưu đầy hào hứng và nhiều thú vị. Hết mọi điều ta có thể nghe, thấy và sờ chạm, nhưng chưa phải là tất cả, và thế giới mà chúng ta đang sống không chỉ nằm trong giới hạn của các quan năng. Ngay trong mớ vật chất tầm thường hiện diện trong thế giới này, vẫn còn vô vàn bí ẩn mà con người thông minh ngày hôm nay chưa thể lý giải được.
Con người mọi thời phải tìm đến một con đường khác để đạt được ý nghĩa đích thực của đời người – đó là sự tin nhận chân lý mạc khải nơi Đức Giêsu Kitô. Cuộc phiêu lưu kỳ diệu và đầy thú vị của Đức tin sẽ dẫn ta đến với chân trời rộng mở, ở đó, ta mới có thể “hiểu” được cái không thể hiểu, “biết” được cái không thể biết!, bởi vì: “Đức tin đảm bảo cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy” (Dt 11, 1).

Cũng có thể chúng ta sẽ gặp phải không ít những khó khăn, bất trắc trong khi dấn thân cho Đức tin. Có một câu hỏi quyết liệt luôn đặt ra cho mọi người dấn thấn trên hành trình Đức tin của mình, rằng:
Tại sao chúng ta lại tín thác chính con người với hoàn toàn cuộc đời hiện tại và tương lai của chúng ta vào một vị Thiên Chúa không bao giờ xuất hiện như “một cái gì đó” có thể hiểu được, có thể nắm bắt được ở đây và lúc này ?
Nhưng câu hỏi quyết liệt trên lại dẫn đến một vấn nạn là: Nếu vị Thiên Chúa mà chúng ta muốn có hình hài như một cái gì đó và chỉ xuất hiện ở đây và lúc này thôi, thì có đáng cho ta hoàn toàn tín thác vào Người không ?

Thánh Kinh đã đưa ra khẳng định nền tảng về Thiên Chúa là Đấng Vô Hình, và như thế, con người không thể nhìn thấy Người trong thế giới mà khả năng nhận biết bị xác định. Thiên Chúa là Đấng vượt xa nghìn trùng so với những gì được xác định bởi các quan năng của con người.

Động cơ của Đức tin là quyền năng của Thiên Chúa Tình Yêu, khi Người ngỏ lời với con người qua Mạc khải một cách thành thật và không thể sai lầm. Mạc khải đó có nguồn gốc thần linh và là những dấu chỉ đáng tin, được gieo vào lòng con người một cách nhưng không và hoàn toàn tự do, tạo ra một sự thay đổi thiêng liêng trong ý nghĩ, tình cảm và dự định sâu xa nhất của họ.
Tuy nhiên, con người cũng có nghĩa vụ phải tìm kiếm Đức tin, và việc tìm kiếm đó xuất phát từ khát vọng sâu xa, chân thành và một thái độ của tâm hồn khiêm tốn, kính cẩn; tìm kiếm phải được hiểu theo nghĩa sẵn sàng đón nhận ơn Đức tin. Hơn nữa, tìm kiếm và đón nhận Đức tin phải đi đôi với sự đổi mới cuộc sống để xứng đáng với ơn Đức tin ấy.

3. Đức Tin Cần Thiết Cho Con Người

Chúng ta có thể đặt ra một thắc mắc căn bản: Đức tin để làm gì ?
Xin thưa: Không để làm gì cả, nhưng nó thay đổi tất cả! Nhờ Đức tin, chúng ta không sống một mình trước cuộc sống, bởi vì có Thiên Chúa ở với ta. Đức tin “là một ơn của Thiên Chúa, được đưa vào trong kinh nghiệm của con người với một mức độ không thể tiên đoán được”, [2] để làm cho con người thành NGƯỜI hơn.

Đức tin theo cái nhìn hiện sinh như là sự chấp nhận và vâng phục Thiên Chúa vì và cho phần rỗi của mình cũng như lợi ích chân chính của tha nhân và thế giới nói chung. Thế nhưng, Đức tin không phải là điều lựa chọn một lần cho mãi mãi và cũng không phải chỉ nhờ một quyết định trong chốc lát mà có thể đạt được Đức tin hoàn hảo. Đức tin đòi hỏi sự kiên nhẫn dấn thân suốt cả đời người.
Để duy trì và lớn lên trong Đức tin, mỗi người phải chăm sóc, nuôi dưỡng nó bằng đời sống cầu nguyện, cử hành Phụng vụ và thực thi bác ái yêu thương liên lỷ. Nếu như vậy, hành trình Đức tin xem ra đầy chông gai và phải “đánh đổi” bằng cả cuộc đời để bước theo hành trình đó, như thế có đáng không ?

Chúng ta cũng thử đặt ra vài nghi vấn đơn giản: Nếu đức tin Kitô giáo là hão huyền thì qua hai ngàn năm với hàng tỉ người sống đức tin đó, họ dại sao? Nếu đức tin Kitô giáo là hão huyền thì bao nhiêu người lỗi lạc, xuất chúng trong lịch sử loài người, đã sống Đức tin đó, họ nhầm sao?!…

Một điều làm chúng ta đáng phải suy nghĩ là hầu như những người đã trải qua mọi sóng gió cuộc đời, nhưng khi về già họ thường tìm về với niềm tin tôn giáo.
Thế giới tinh thần mà con người luôn luôn vận động và nhắm tới là “cái thật cao và cái thật xa. Càng có tuổi thì nhu cầu hướng tới cái tận thiện tận mĩ, thậm chí tới cái vô cùng nữa càng mãnh liệt. Gần như là day dứt, một khắc khoải. Những day dứt và khắc khoải ấy có nhiễm chút nào cái hương vị tôn giáo? Hoặc chỉ là một nhu cầu rất tự nhiên của con người vốn không cam chịu dừng lại trước bất kì một giới hạn nào!”[3]
Tâm lý học ngày nay cũng xác nhận con người có nhu cầu tự nhiên thiết lập mối quan hệ đúng đắn với Thiên Chúa trong tinh thần tùng phục và thờ lạy. Và người ta nhận thấy một nguyên nhân quyết định đưa tới các bệnh tâm lý và thần kinh của con người, nhất là khi bước sang nửa đời còn lại, đó là do thiếu niềm tin tôn giáo.
Nhiều chuyên gia tâm lý coi niềm tin tôn giáo và đời sống tâm linh như là điều kiện thiết yếu để có được sức khỏe tâm lý. Hơn nữa, như một sự tự nhiên, linh hồn của con người luôn luôn cảm thấy bị thôi thúc hướng tới một Cái Gì Đó Tuyệt Đối.
Đại văn hào Nga Dostoievsky (1822-1881) đã quả quyết: “khi không còn tin tưởng Thiên Chúa nữa thì con người có thể phạm bất cứ tội ác nào!” Như thế, Đức tin chân chính chắc chắn sẽ mang lại ơn cứu rỗi cho con người và làm lành mạnh hóa xã hội.

Tạm Kết

Ngày hôm nay, những ai nặng lòng ưu tư về đời sống văn hóa và đạo đức xã hội đều nhận ra mối nguy hiểm hiển nhiên đang ăn sâu vào lối sống của nhiều người, đặc biệt là các người trẻ, đó là sự tương đối hóa mọi giá trị.
Đối với những người trẻ hôm nay, niềm tin của họ vào những giá trị đích thực, khách quan và phổ quát dường như đã bị đánh cắp; những giá trị đích thực và các chân lí khách quan được xem như chỉ có ý nghĩa cá nhân mà thôi.
Lý tưởng sống đích thực của nhiều người trong xã hội hôm nay dường như bị đảo lộn. Xu thế thực hành cuộc sống một cách tự do phóng túng đang tràn lan trong xã hội không những gây ra biết bao nguy hiểm cho chính đời sống hiện tại của mỗi người mà còn nguy hiểm cho cả tương lai loài người nữa.

Để tìm lại được chính mình và trở nên NGƯỜI hơn, chắc chắn mỗi người chúng ta phải đặt vấn đề về Nguồn Cội của sự sống, về các giá trị hiện sinh và về Ý Nghĩa Cuối Cùng của chính mình và của cả nhân loại.
Và chỉ khi chấp nhận Đức tin để đi sâu vào trong mối tương quan với Đấng Tạo Hóa giàu lòng yêu thương – một mối tương quan vừa mang tính cá vị vừa mang tính cộng đồng trong Giáo Hội với một niềm tín thác hoàn toàn thì bạn, tôi cũng như mọi người khác mới tìm thấy được lời giải đáp cho tất cả.

Fx. Cẩm Trường
---------------------------
[1] P. Nguyễn Thái Hợp, Chút Này Làm Tin, Dấn thân – Houston, 2003, tr. 260.
[2] Michael  CASEY, Con Người Trọn Vẹn – Thiên Chúa Trọn Vẹn, Lm. Đaminh Nguyễn Đức Thông chuyển dịch, Nxb. Tôn giáo, 2009, tr. 30.
[3] Nhà văn Nguyễn Khải, “Mấy Lời Nói Lại Và Nói Thêm”, trên Tuần báo Văn Nghệ, số 11 (12.3.1988), tr. 3.

http://danchuahiepthong.com/index.php?option=com_content&view=article&id=7724:c-tin-va-s-cn-thit-ca-c-tin&catid=37:chia-s&Itemid=545

Thứ Ba, 9 tháng 10, 2012

NĂM ĐỨC TIN: TRÁCH NHIỆM NGÔN SỨ CỦA NGƯỜI TÔNG ĐỒ VÀ CỦA NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN



Thánh Lễ khai mạc Năm Đức Tin sẽ  được Đức Thánh Cha Bê-nê-đichtô 16 long trọng cử hành  tại Rôma  ngày 11 tháng 10 tới đây. Năm Đức Tin được mở ra nhân kỷ niêm 50 năm sau Công Đồng Vaticanô II kết thúc  , và cũng kỷ niệm 20 năm  ngày  công bố Sách Giáo Lý mới của  Giáo Hội Công Giáo, đồng thời cũng là dịp Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới ( Synod of Bishops) họp phiên kháng đại lần  thứ 13.
Đây là thời điểm thích hợp để toàn thể Giáo Hội nhìn lại đời sống đức tin của mình dựa trên nền tảng  Tin Mừng  Cứu Độ của Chúa Kitô, Đấng đã đến trần gian làm Con Người để rao giảng Tin Mừng, và  hy sinh “ hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người.” ( Mt 20: 28)
Nghĩa là mọi người trong Giáo Hội – Hàng Giáo Phẩm, Giáo sĩ, Tu sì và Giáo dân- đều được mời gọi để canh tân, củng cố  và sống niềm tin của mình vào Chúa Kitô cách  hữu  hiệu hơn nữa để ứng phó với những thách  đố của thời đại  tục hóa ( vulgarism) tôn thờ khoái lạc ( hedonism) vô thần (atheism) và phi  luân ( amoralism), là những  đặc trưng  của “văn hóa sự chết” đang lan tràn ở khắp nơi trên thế giới ngày nay để lôi cuốn biết bao người vào hố diệt vong .Giệt vong vì  không có  niêm tin vào một Quyên Lực , hay  một Đấng tối cao  mà người tín hữu chúng ta tôn thờ là Thiên Chúa, Đấng dựng nên và thưởng phạt  con người về những việc mình làm trong cuộc sống trên đời này. Vì không có niềm tin này, nên người ta tự do sống thác loan, làm những sự dữ và tội ác  không sao tả cho siết được.. Thực trạng này phải là mới ưu tư hàng đầu của những ai muốn sống niềm tin có Thiên Chúa cực tốt cực lành, đã sai Con Một là Chúa Kitô đến trần gian vì “ muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý.” ( ! Tm 2 : 4)

Nhưng muốn được cứu độ và nhận biết chân lý thì phải thực sự và thực tâm tin  Chúa Kitô và thể hiện niềm tin ấy  cách cụ thể  bằng thực hành hay sống theo Tin Mừng Cứu độ của Người.
Thật vậy, Phức Ăm Sự Sống hay Tin Mừng Cứu Độ mà Chúa Kitô đã rao giảng và trả giá bằng chính mạng sống của Người trên thập giá cách nay trên 2000 năm, cho đến nay vẫn còn xa lạ  đối với  đa số người trên trái đất này , vì  hiện còn  trên 5 tỷ người chưa biết Chúa Kitô  và  đang còn  ở ngoài Giáo Hội Công Giáo là phương tiện hữu hiệu nhất để chuyên chở ơn cứu độ của Chúa Kitô đến cho  mọi dân mọi nước trên khắp địa cầu cho đến ngày mãn thời gian .
Vì thế,  sứ mang Phúc âm hóa thế giới vẫn là trọng trách và là mối ưu tư hàng đầu của Giáo Hội .Và để thi hành sứ mang này cách hiệu quả hơn, Giáo hội cần nhìn lại chính mình để xem Tin Mừng của Chúa Kitô đã thấm sâu vào tim óc của mình đến đâu  cũng như  đã biến đổi chính mình ra sao,  trước khi  tiếp tục sứ mạng phúc âm hóa người khác, tức mời gọi thêm nhiều người nữa đón nhận và tin Chúa Kitô là Đấng cứu chuộc duy nhất của nhân loại.
Đó là lý do Giáo Hội  mở Năm Đức Tin để toàn thể Giáo Hội được dịp kiểm điểm đời sống đức tin của mình trước khi quảng bá đức tin ấy cho những người  chưa nhận được Tin Mừng  này.
Ngày 22 tháng 9 vừa qua, nhân tiếp kiến một số đông tân Giám mục ở Rôma, Đức Thánh Cha Biển Đức  16 đã lưu ý các tân Giám mục về sứ mệnh phúc âm hóa như sau :
   “ Công cuộc Phúc âm hóa quả thực không phải là công việc của các chuyên gia  mà là  của toàn thể dân Chúa trong Giáo Hội dưới sự hướng dẫn của các chủ chăn.Mỗi thành viên của tập thể tín hữu ở trong và cùng với cộng đồng Giáo  Hội phải cảm thấy mình có trách nhiêm công bố và làm nhân chứng cho Tin Mừng.”  (Evangelization , indeed, is  not a work of specialists, but of the entire people of God under the guidance of theirs Pastors. Every member of the faithful , in and with the ecclesial community must feel responsible  for proclaiming  and witnessing to  the Gospel. (L’Osservatore Romano, September 26,2012, p.5)
Đây chính là sứ mệnh mà Chúa Kitô đã trao phó cho các Tông Đồ trước  tiên và cho toàn thể Giáo Hội ngày nay trước khi Người về Trời:
      “  Anh  em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo.Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ; còn ai không tin thì sẽ bị kết án.” ( Mc 16 :16)

Như thế loan báo Tin Mừng hay Phúc Âm hóa thế giới phải là sứ mênh quan trọng nhất của Giáo Hội nhận lãnh từ chính Chúa Kitô sau khi Người hoàn tất công trình cứu chuộc nhân loại  của Thiên Chúa qua khổ hình thập giá, chết , sống lại và lên Trời.
Nhưng muốn cho công cuộc  Phúc âm hóa được kết quả mong muốn thì người công bố phải là người chứng tá cho Tin Mừng  mình loan truyền cho người khác, như Đức Thánh Cha đã nhắc nhở các Tân Giám Mục trên đây. .Nghĩa là chính mình phải sống Tin Mừng ấy cách  đích thực  và sâu đậm  thì mới có sức thuyết phục người khác tin điều mình rao giảng cho họ.

I-Trách nhiệm ngôn sứ  và nhân chứng  của người Tông Đồ.



Thật vậy, người Tông Đồ xưa và nay là người được Chúa kêu goi cách riêng đi rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng.Thế giới xưa và đặc biệt ngày nay, đã và đang thách đố niềm tin  Kitô  Giáo  và những ai rao giảng Tin Mừng của Chúa với  thực trạng của “ văn hóa sự chết” chối bỏ Thiên Chúa và mọi giáo lý của Người  để quyến rũ  con người vào đường hư mất đời đời.
Vì thế cho nên “ khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng.” ( 1 Cor 9: 16) như Thánh Phaolô đã nhắc nhở chính mình và những ai được ơn tgoij đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitoo, là linh dược để chữa lành mọi bệnh tật của linh hồn và bảo đảm hy vọng được sống hạnh phúc với Chúa trên Nước Trời mai sau.
Nói khác đi, để đối kháng với  mọi thách đố của “văn hóa sự chết” chỉ có Phúc Âm  sự sống của Chúa Kitô mới  có sức hóa giải mọi  độc hại  của  các  tà thuyết vô thần, tôn thờ tiền bạc và của cải  vật chất , chuộng khoái lạc vô luân vô đạo, dừng dưng  trước sự đau khỏ , nghèo đói của người khác. Đó là bộ mặt  của thế gian trống vắng niềm tin, và nhuộm đầy  mầu sắc của  sự dữ  sự gian ác, sự ô uế, sự bất công và thiếu tình người .
Nhưng cho được thuyết phục người khác nghe và tin Chúa Kitô, người Tông Đồ phải là người chứng tá  trung thực  của Tin Mừng mình rao giảng.
Cụ thế, nếu người Tông Đồ cũng ham mê  tiền của và hư danh trần thế, để vận động hay mua chuộc ai  hầu  được tiến cử vào các chức vụ lãnh đạo trong Giáo hội hoàn vũ hay địa phương, -  -hoặc  tệ hại hơn nữa-  làm tay sai cho thế quyền để mưu  lợi ích cá nhân, thì chắc chắn sẽ không thể  giảng sự khó nghèo của Phúc Âm  và thuyết phục được ai sống tinh thần khó nghèo này  và  khiêm tốn phục vụ  theo gương Chúa Kitô, Người đã sống lang thang, khó nghèo đến nỗi  “ không có nơi tựa đầu, trong khi con chồn có hang, chim trời có tổ.” ) Mt  8: 21)  
Như vậy, nếu dính bén vào của cải  trần thê,và chạy theo danh vọng hư hèn thì đã khinh chê tinh thần khó nghèo của chính Chúa Kitô.
Mặt khác, để nói lên sự khinh chê về những ham muốn danh vọng hư hão  trên đời này  v à cũng để trả lời các môn đệ đến hỏi Chúa xem ai là người lớn nhất  trong Nước Trời, Chúa Giêsu đã nói với  họ như sau : ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời.” (Mt 18 : 4)
Đó chính là gương phục vụ sáng chói mà Chúa Giêsu đã nêu cao khi Người cúi mình rửa chân cho các môn đệ trong Bữa tiệc Ly sau hết trước khi Người bị trao nộp và tử nạn trên thập giá để đền tội thay nhân loại và cứu chuộc cho muôn người.khỏi chết đời đời vì tội.
Như thế , sống đức tin cho có chiều sâu và có sức thuyết phục người khác trong Năm Đức Tin này  cũng đòi hỏi cách riêng người Tông Đồ lớn nhỏ ngày nay phải nhìn lại đời sống đức tin của chính mình, xem mình có thực sự sống cốt lõi của Tin Mừng hay chưa và , -và đặc biệt- đã  thực sự sống tinh thần khó nghèo của Chúa Kitô ” Đấng vốn giầu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên khó nghèo vì anh  em ,  để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh  em trở nên giầu có.” ( 2 Cor  8: 9) ?
Nếu người Tông Đồ mà không là mẫu mục đức tin, đức cậy , đức mến , kèm với  tinh thần phục vụ khiêm tốn  và khó nghèo theo gương Chúa Kitô,  thì làm sao có thể thuyết phục được ai nghe mình giảng dạy về những nhân đức này nữa ? Chúa nói: “ Ai có tai nghe thì nghe.” ( Mt 13 : 43; Mc  4: 23; Lc 8: 8)
         
 II- Trách nhiệm ngôn sứ và chứng tá của người tín hữu giáo dân:


Không phải chỉ người Tông Đồ mới có trách nhiệm rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng.
Ngược lại, qua bí tích Rửa tội, người giáo dân cũng tham dự vào ba chức Tư Tê, Ngôn sứ và vương đế của Chúa Kitô nhưng với thể thức khác với hàng Giáo phẩm, giáo sĩ và tu sĩ..
Cụ thể , hàng Giáo sĩ  và Tu sĩ thừa tác (Ministerial clergy and religious) như các Giám mục và linh mục Dòng và Triều thi hành chức năng tư tế bằng việc tế lễ trên bàn thờ, tức là dâng lại hy Tế thập giá của Chúa Kitô,  giảng Phúc Âm và cử hành các bí tích trong nhà thờ  nhân danh Chúa ( in persona Christi).
Người tín hữu giáo dân, ngược lại, dâng chính đời sống của mình với mọi vui buồn, sướng khổ để hiệp thông với sự đau khổ của Chúa Kitô trên thập giá xưa và cách bí nhiệm ngày nay trên bàn  thờ mỗi khi Thánh Lễ Tạ Ơn ( Eucharist) được cử hành để cảm tạ Chúa Cha và xin ơn tha tội cho chúng ta cùng thể thức và mục đích của Hy tế Chúa Kitô dâng lần đầu tiên trên thập giá.
Cũng vậy, người tín hữu giáo dân thi hành sứ mạng ngôn sứ của mình bằng chính đời sống của mình trước mặt người đời để “  họ thấy những công việc tốt đẹp anh  em làm mà tôn vinh Cha của anh  em, Đấng ngự trên trời.” ( Mt 5: 16).
Nghĩa là trong khi những người không có niềm tin vào Chúa Kitô và đang làm những sự xấu sự dữ như giết người, giết thai nhi, thay vợ đổi chồng, dâm ô trác táng, gian manh, trộm cắp, cờ bạc , căm thù, chia rẽ , coi nhẹ lương tâm để lường gạt, bóc lột người khác…thì người có niềm tin nơi Chúa phải sống  niềm tin ấy cách cụ thể và sống động để nêu cao những giá trị của niềm tin là tôn trọng sự sống, tôn trọng công bình, lương thiện,  thực thi  bác ái, yêu thương,  tha thứ  , “ như thế, anh  em sẽ trở nên trong sạch , không ai chê trách được điều gì, và sẽ trở nên  những con người vẹn  toàn của Thiên Chúa giữa một thế hệ gian tà  sa đọa. Giữa thế hệ đó, anh  em phải chiếu sáng như những vì sao  trên vòm  trời.” ( Pl  2:  15)  theo lời  dạy của Thánh Phaolô Tông Đồ.
Thật vậy, sống trong thời đại của “văn hóa sự chết” , đức tin của người tín hữu Chúa Kitô đang bị thách đố nặng nề bởi những kẻ không có niềm tin nào , nên chỉ còn biết chay theo những quyến rũ của tiền bạc và danh vọng hư hão, coi nhẹ luân thường ,đạo lý để làm những sự độc ác như giết người không gớm tay, lường đảo, gian manh, pha chế chất độc vào thực phảm
để làm hại sức khỏe của dân chúng, trông cây thuốc phiện, cần sa, ma túy , mở sòng bạc, nhà điếm, buôn bán phụ nữ  và trẻ em cho kỹ nghệ mãi dâm, ấu dâm  vô cùng khốn nạn và tội lỗi.
Nếu người tín hữu Chúa Kitô mà cũng tham gia vào những việc tội lỗi nói trên, thì đã tự đánh mất niềm tin của mình  và đã thỏa hiệp với thế gian vô đạo cách rõ nét nhất. Và như thế thì thay vì làm nhân chứng cho Chúa Kitô  trước mặt người đời, người tín hữu sẽ trở thánh phản chứng ( anti-witness) bằng chính đời sống của mình trước mặt người khác  khi  không dám sống niềm tin của mình phản ảnh trung thực Tin Mừng của sự sống, sự công bình, đức bác aí, tình thương tha nhân, lòng yêu mến sự trong sạch thánh thiện là những đặc trưng và đòi hỏi của Tin Mừng Cứu Độ, tức Phúc Âm  sự Sống đối nghịch hoàn toàn với :”vân hóa sự chết”  của thế giới tục hóa ngày nay.
Mặt khác, khi người tín hữu Chúa Kitô tích cực hoạt động để bảo vệ cho sự sống, bảo vệ và nêu cao những giá trị của luân lý Kitô Giáo về hôn nhân, về gia đình, về sự chung thủy của vợ chồng trong hôn nhân, về công bình xã hội, về tôn trọng quyền sống của con người ..thì đã góp phần tích cực vào việc mở mang Nước Chúa là Vương quốc của sự bình an, công bình, yêu thương và thánh thiện.
.Đó là trách nhiệm ngôn sứ và nhân chứng của người giáo dân trong Giáo Hội. Công Đồng Vaticanô II đã đặc biệt nói đến trách nhiệm này trong Hiến Chế Lumen Gentium ( Ánh sáng muôn dân LG) như sau:
    
  “ ..Vì thế , giáo dân làm tông đồ là thông phần vào chính sứ mệnh của Giáo Hội Mỗi tín hữu đều được Chúa đề cử làm tông đồ  qua việc nhận lãnh Phép Rửa và Thêm sức,…Nhưng giáo dân được đặc biệt kêu mời làm cho Giáo Hội hiện diện và hoạt động trong những nơi và hoàn cảnh mà nếu không có họ, Giáo Hội sẽ không trở thành muối của thế gian.” ( x LG 33)
Nói khác đi, mọi thành phần dân Chúa trong Giáo Hôi đều có trách nhiệm rao giảng lời Chúa và làm nhân chứng cho Chúa để đem ánh sáng Chúa Kitô vào nơi tối tăm  ô uế vì ham chuộng khoái lạc dâm ô, nhảy nhót mất nết, đem công bình vào nơi bóc lột và bất công, đem yêu thương vào nơi oán thù, đem bình an vào nơi đang sôi sục lửa chiến tranh và khủng bố.
Tóm lại, Năm Đức Tin là thời cơ thuận lợi cho mọi người trong Giáo Hội kiểm điểm đời sống đức tin của mình để canh tân và đào sâu thêm đức tin vào Chúa Kitô trong hai chiều kích đi loan truyền và làm nhân chứng cho Tin Mừng Cứu Độ để mời gọi thêm nhiều người nữa tin và yêu mến Chúa Kitô để được  cứu độ và được vinh phúc “ thông phần bản tính Thiên Chúa sau khi đã thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian này.” ( 1 Pr 1 : 4)

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
Tác giả Ngô Tôn Huấn, Lm